Dự án về thực phẩm đoạt giải quán quân cuộc thi. Chiều 16/10, chung kết Cuộc thi “Dự án khởi nghiệp nông nghiệp - Đổi mới sáng tạo ” lần 8 - năm 2022 khép lại với ngôi vị quán quân thuộc về dự án “Các sản phẩm ống hút, bún gạo” của chị Trương Thị Hồng Hà
Nền móng lý luận khởi nghiệp Ludwig von Mises (1881-1973) Murray Rothbard (1926-1995) Joseph Schumpeter (1883-1950) Israel Kirzner (1930-) Lương Văn Can (1854-1927) • Thế giới có rất nhiều học giả nghiên cứu về khởi nghiệp • Việt Nam có nhiều gương khởi nghiệp từ đầu thế kỷ 20: Lương
đối thủ cạnh tranh không ít nhưng cửa hàng sẽ tạo cho mình sự khác biệt về. Ý Tưởng Khởi Nghiệp. 2. Nguyễn Thị Bách Duyên. Tiệm Bánh Hạnh Phúc. phong cách cho riêng mình, sự phục vụ tận tình, sự khác biệt phong phú của. sản phẩm và loại hình giải trí mới lạ nhằm
HỒ CHÍ MINH HOÀNG ANH DŨNG LẬPhường. KẾ HOẠCH KHỞI SỰ CHO CÁC DOANH NGHIỆPhường VỪA VÀ NHỎ VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ VIỆT NAM 2. Mục tiêu của đề tài: - Làm rõ một trong những vấn đề lý luận cơ bản về khởi nghiệp nlỗi có mang doanh
Những bài văn mẫu hay lớp 9. Văn mẫu lớp 9: Nghị luận về vấn đề khởi nghiệp được VnDoc.com tổng hợp và sưu tầm gồm các bài văn mẫu hay cho các em học sinh tham khảo, củng cố kỹ năng cần thiết cho bài kiểm tra viết sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng
Sáng 20-10-2022, Kỳ họp thứ 4, Quốc hội Khóa XV đã khai mạc trọng thể tại Nhà Quốc hội, Thủ đô Hà Nội. Báo Tin tức xin giới thiệu toàn văn bài phát biểu của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ tại phiên khai mạc Kỳ họp.
Do (2021), Le và các cộng sự (2020) đã khẳng định khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Việt Nam đang là chủ đề được cả nước quan tâm, nhiều chương trình, cuộc thi khởi nghiệp của các tổ chức đã được triển khai nhằm khuyến khích tinh thần khởi nghiệp của học sinh
Đó là bài học cho những cầu thủ trẻ và thế hệ trẻ không chỉ trong bóng đá mà trong cuộc sống. Bài học về khởi nghiệp của Đặng Văn Lâm là thông điệp cho tất cả những ai đang nỗ lực tìm kiếm cơ hội với những đam mê của mình. Văn Lâm không có một tuổi thơ dữ
Cách Vay Tiền Trên Momo. ArticlePDF AvailableAbstractMục đích của bài viết là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trường Đại học Tiền Giang. Nghiên cứu dựa trên lý thuyết hành vi dự định của Ajzen 1991 kết hợp với các nghiên cứu liên quan để xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất gồm bảy nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp. Nghiên cứu định tính nhằm điều chỉnh mô hình và thang đo sơ bộ, hình thành mô hình và thang đo nghiên cứu chính thức. Nghiên cứu định lượng được tiến hành để kiểm định độ tin cậy thang đo và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến ý định khởi nghiệp thông qua phân tích hồi quy tuyến tính đa biến. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có năm nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, sắp xếp theo mức độ ảnh hưởng giảm dần là 1 đặc điểm tính cách, 2 giáo dục khởi nghiệp, 3 kinh nghiệm, 4 nhận thức kiểm soát hành vi và 5 quy chuẩn chủ quan. Dựa trên kết quả nghiên cứu, một số hàm ý quản trị liên quan đến 5 nhân tố ảnh hưởng cũng được đưa ra nhằm nâng cao ý định khởi nghiệp của sinh viên nhà trường, đồng thời đề xuất hướng nghiên cứu cho tương lai. Discover the world's research25+ million members160+ million publication billion citationsJoin for freeContent may be subject to copyright. 170 Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Tiền Giang A study of factors affecting Tien Giang University students’ entrepreneurial intention Võ Văn Hiền1, Lê Hoàng Vân Trang1* 1Trường Đại học Tiền Giang, Việt Nam *Tác giả liên hệ, Email lehoangvantrang DOI Ngày nhận 09/07/2020 Ngày nhận lại 22/09/2020 Duyệt đăng 30/10/2020 Từ khóa ý định khởi nghiệp; kinh nghiệm; tính cách; sinh viên Keywords entrepreneurial intention; experience; personality; students Mục đích của bài viết là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Tiền Giang. Nghiên cứu dựa trên lý thuyết hành vi dự định của Ajzen 1991 kết hợp với các nghiên cứu liên quan để xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất gồm bảy nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp. Nghiên cứu định tính nhằm điều chỉnh mô hình và thang đo sơ bộ, hình thành mô hình và thang đo nghiên cứu chính thức. Nghiên cứu định lượng được tiến hành để kiểm định độ tin cậy thang đo và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến ý định khởi nghiệp thông qua phân tích hồi quy tuyến tính đa biến. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có năm nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, sắp xếp theo mức độ ảnh hưởng giảm dần là 1 đặc điểm tính cách, 2 giáo dục khởi nghiệp, 3 kinh nghiệm, 4 nhận thức kiểm soát hành vi và 5 quy chuẩn chủ quan. Dựa trên kết quả nghiên cứu, một số hàm ý quản trị liên quan đến 5 nhân tố ảnh hưởng cũng được đưa ra nhằm nâng cao ý định khởi nghiệp của sinh viên nhà trường, đồng thời đề xuất hướng nghiên cứu cho tương lai. ABSTRACT The objective of this paper is to identify the factors affecting Tien Giang university students’ entrepreneurial intention. The study is based on the theory of Planned Behavior Ajzen, 1991 and previous relevant empirical studies to build a proposed research model which included seven factors influencing students’ entrepreneurial intention. Qualitative research corrected the research model and preliminary research scale and formed the official research model and scale. Quantitative research was used to test the scale’s reliability and measure the impact of factors on entrepreneurial intention through the multivariate linear regression analysis. Study results indicated that five factors were being sorted by the level of diminishing influence 1 personality traits, 2 entrepreneurship education, 3 experience, 4 perceived behavioral control, and 5 subjective norm. Besides, the study Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 171 also showed differences relevant to students’ entrepreneurial intention by gender. Based on the study outcomes, the paper was concluded by giving some managerial implications relevant to 05 influencing factors to increase students’ entrepreneurial intention in the considered area and proposing research directions for the future. 1. Giới thiệu Thời gian qua, khởi nghiệp được xem là một trong những hoạt động có tầm ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển của đất nước và là một giải pháp hữu hiệu cho tình trạng thất nghiệp đang ngày càng gia tăng. Nhiều chính sách khuyến khích khởi nghiệp đối với thanh niên đã được Chính phủ ban hành. Trong số đó, những đề án phát huy tinh thần khởi nghiệp trong sinh viên luôn được chú trọng, mà điển hình là đề án “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025” gọi tắt là Đề án 1665 được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định ban hành ngày 30/10/2017. Có thể nói, sinh viên với sự trẻ trung, năng động và nguồn ý tưởng khởi nghiệp đa dạng sẽ là những nhà khởi nghiệp tiềm năng sau này. Xét riêng Trường Đại học Tiền Giang, bên cạnh sứ mạng đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao và mang đến cho người học cơ hội nghề nghiệp để thăng tiến, việc truyền cảm hứng khởi nghiệp và hình thành năng lực khởi nghiệp trong các thế hệ sinh viên cũng được nhà trường chú trọng. Trong năm 2019, trường đã phối hợp với Tập đoàn Trung Nguyên Legend khởi xướng chương trình “Hành trình từ trái tim - Hành trình lập chí vĩ đại - Khởi nghiệp kiến quốc”. Bên cạnh đó, bắt đầu từ năm 2012 đến nay, cuộc thi “Sinh viên khởi nghiệp” được tổ chức thường lệ hàng năm như một hình thức mà nhà trường góp phần tạo môi trường khích lệ khởi nghiệp chung trong xã hội. Tuy nhiên trong thực tế, các ý tưởng kinh doanh của sinh viên chỉ dừng lại ở mức ý tưởng. Hầu hết sinh viên chưa mạnh dạn thực hiện khởi nghiệp sau khi ra trường, kể cả sinh viên thuộc nhóm ngành kinh tế. Theo phòng công tác sinh viên và trung tâm khảo thí Trường Đại học Tiền Giang 2019, số sinh viên khởi nghiệp kinh doanh hay tự tạo việc làm cho mình chỉ chiếm khoảng Số liệu có được từ việc thực hiện khảo sát việc làm của 487 cựu sinh viên sau một năm ra trường các sinh viên tốt nghiệp vào tháng 09/2018. Điều này chứng tỏ đã có sinh viên của trường khởi sự kinh doanh và tự tạo việc làm cho bản thân nhưng tỷ lệ vẫn còn rất thấp. Theo Krueger và Brazeal 1994, ý định cho khởi nghiệp chính là tiền đề cho hành vi khởi nghiệp. Điều này khẳng định việc nghiên cứu ý định khởi nghiệp là rất quan trọng và thể hiện nỗ lực khuyến khích các hoạt động tự kinh doanh. Thực chất, các bạn sinh viên muốn khởi nghiệp thành công thì phải có sự đầu tư tìm hiểu kỹ lưỡng ngay từ lúc ban đầu hình thành ý định. Nhiều nghiên cứu nước ngoài về các yếu tố ảnh hưởng ý định khởi nghiệp của sinh viên được thực hiện như các nghiên cứu của Ambad và Damit 2016; Suan, Ai, Raman, Loon, và Tanumihardja 2011; Zhang, Duysters, và Cloodt 2014... Việt Nam cũng có một số nghiên cứu cùng lĩnh vực nhưng chủ yếu đều thực hiện tại các trường đại học ở các thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh TP. HCM hay Cần Thơ, và hiện tại chưa có một nghiên cứu đầy đủ nào về ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Tiền Giang. Ngoài ra, tuỳ theo đặc điểm của từng trường đại học cũng như hoàn cảnh từng địa phương mà các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên cũng sẽ được tiếp cận theo những khía cạnh khác nhau. Với những lý do trên, việc triển khai thực hiện đề tài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Tiền Giang” là cần thiết. Kết quả nghiên cứu sẽ mang đến cho lãnh đạo nhà trường cái nhìn toàn diện về những yếu tố nào thật sự ảnh hưởng đến ý 172 Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 định khởi nghiệp của sinh viên, từ đó đưa ra những định hướng hỗ trợ phù hợp, giúp sinh viên có được những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết làm hành trang khi khởi nghiệp sau này. Ngoài phần tóm tắt, giới thiệu và tài liệu tham khảo thì nội dung bài nghiên cứu bao gồm cơ sở lý thuyết, phương pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu và thảo luận, kết luận và các hàm ý quản trị. 2. Cơ sở lý thuyết Khởi nghiệp Entrepreneurship Các quan điểm về khởi nghiệp luôn khác nhau và định nghĩa khởi nghiệp không là duy nhất. MacMillan 1993 định nghĩa khởi nghiệp là việc cá nhân chấp nhận mọi rủi ro để tạo lập doanh nghiệp mới hoặc mở cửa hàng kinh doanh vì mục đích lợi nhuận và làm giàu. Hisrich và Drovensek 2002 cho rằng khởi nghiệp là quá trình tạo ra một cái gì đó mới mẻ, có giá trị bằng cách dành thời gian và nỗ lực cần thiết để đạt được sự độc lập về tiền tệ, trong đó có những rủi ro về tài chính, tâm linh và xã hội kèm theo. Theo Nga và Shamuganathan 2010, khởi nghiệp là sự theo đuổi các cơ hội làm giàu về mặt kinh tế thông qua các sáng kiến hay các ý tưởng mới của cá nhân trong môi trường hoạt động không chắc chắn với các nguồn lực hữu hình giới hạn. Trong nghiên cứu này, khởi nghiệp sẽ được hiểu là sự tạo dựng một công việc kinh doanh mới hay thành lập một doanh nghiệp mới thông qua những ý tưởng kinh doanh sáng tạo, nhận diện và tận dụng được các cơ hội để đạt được sự hài lòng trong việc kinh doanh của chính mình Koe, Sa’ari, Majid, & Ismail, 2012. Quan điểm này dễ hiểu và có sự tương đồng với các quan điểm về khởi nghiệp trước đó. Ý định khởi nghiệp Entrepreneurial Intention Bird 1988 quan niệm ý định khởi nghiệp của một cá nhân là trạng thái tâm trí, trong đó hướng đến việc hình thành một hoạt động kinh doanh mới hay tạo lập một doanh nghiệp mới. Ý định khởi nghiệp cũng được định nghĩa là ý định của một cá nhân để bắt đầu một doanh nghiệp Souitaris, Zerbinati, & Al-Laham, 2007. Kuckertz và Wagner 2010 khẳng định ý định khởi nghiệp bắt nguồn từ việc nhận ra cơ hội, tận dụng các nguồn lực có sẵn và sự hỗ trợ của môi trường để tạo lập doanh nghiệp. Zain, Akram, và Ghani 2010 cho rằng ý định khởi nghiệp thường liên quan đến nội tâm, hoài bão và cảm giác của cá nhân đối với việc “đứng trên đôi chân của mình”. Nghiên cứu của Dohse và Walter 2012 đã đưa ra một khái niệm súc tích và gần gũi hơn so với các nghiên cứu trước về ý định khởi nghiệp, trong đó ý định khởi nghiệp là trạng thái của tâm trí trong việc sẵn sàng thực hiện tự kinh doanh, tự tạo việc làm hoặc thành lập doanh nghiệp mới. Ý định khởi nghiệp trong phạm vi nghiên cứu của bài báo này cũng được hiểu theo quan điểm của Dohse và Walter 2012. Lý thuyết về hành vi dự định của Ajzen 1991 Lý thuyết về hành vi dự định của Ajzen 1991 - Ajzen's Theory of Planned Behavior TPB - là một sự mở rộng của lý thuyết hành động hợp lý Theory of reasoned action mà Ajzen đã từng đưa ra trước đó, nhằm khắc phục những hạn chế của mô hình ban đầu trong việc giải quyết kiểm soát hành vi. Lý thuyết này xác định ba tiền đề của ý định thái độ đối với hành vi attitude toward the behavior hay perceived attitude, các quy chuẩn chủ quan subjective norm và nhận thức kiểm soát hành vi perceived behaviorial control. Thái độ đối với hành vi đề cập đến mức độ mà một người đánh giá về hành vi đang được nói đến là có lợi hay không có lợi. “Các quy chuẩn chủ quan” đề cập đến nhận thức của cá nhân về các áp lực xã hội có ảnh hưởng đến việc thực hiện hoặc không thực hiện hành vi. Thêm vào đó, Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 173 Ajzen 1991 cũng cho rằng “thái độ đối với hành vi” và các “quy chuẩn chủ quan” phản ánh “nhận thức mong muốn” của việc thực hiện hành vi. Còn “nhận thức kiểm soát hành vi” phản ánh nhận thức rằng hành vi này có thể kiểm soát được một cách cá nhân hay không. Nói cách khác, “nhận thức kiểm soát hành vi” đề cập đến nhận thức của cá nhân về sự dễ dàng hoặc khó khăn trong việc thực hiện hành vi. Đây là yếu tố được Ajzen 1991 xem là quan trọng trong mô hình hành vi dự định, đồng thời cho thấy điểm khác biệt so với thuyết hành động hợp lý trước đó. Mô hình của Ajzen 1991 được sử dụng khá phổ biến trong nhiều nghiên cứu liên quan đến ý định khởi nghiệp của cá nhân. Trong nghiên cứu này, các yếu tố trong mô hình của Ajzen 1991 cũng được sử dụng để xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên. Tổng quan các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Nghiên cứu nước ngoài Suan và cộng sự 2011 nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của 200 sinh viên đại học Malaysia. Nghiên cứu này sử dụng lý thuyết sự kiện khởi nghiệp của Shapero và Sokol 1982 kết hợp một số yếu tố khác phù hợp với hoàn cảnh nghiên cứu để xây dựng mô hình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, ngoại trừ “gia đình và bối cảnh cá nhân”, các yếu tố còn lại là đặc điểm tính cách, giáo dục, kinh nghiệm và nhận thức mong muốn đều thể hiện sự tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp. Hạn chế của nghiên cứu là mẫu khảo sát nhỏ với 200 sinh viên và bỏ qua việc xem xét yếu tố thái độ đối với hành vi có ảnh hưởng thế nào đến ý định khởi nghiệp. Nghiên cứu của Liñán, Rodríguez-Cohard, và Rueda-Cantuche 2011 tại Trường đại học Pablo Olavide và Seville Tây Ban Nha xác định giáo dục khởi nghiệp, thái độ cá nhân, quy chuẩn xã hội và nhận thức tính khả thi đều có sự tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên. Nghiên cứu có hạn chế là chỉ khảo sát trên đối tượng sinh viên thuộc các chuyên ngành kinh tế kinh doanh và kinh tế học mà bỏ qua sinh viên các nhóm ngành văn hóa hay xã hội. Còn kết quả nghiên cứu của Zhang và cộng sự 2014 tại 10 trường đại học ở Trung Quốc thể hiện ngoài yếu tố “nhận thức tính khả thi” không có sự ảnh hưởng thì ba yếu tố còn lại là nhận thức mong muốn, kinh nghiệm và giáo dục khởi nghiệp đều có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp. Hạn chế của nghiên cứu là chỉ thực hiện khảo sát đối với sinh viên đại học mà bỏ qua các đối tượng khác chẳng hạn sinh viên cao đẳng, học sinh trung cấp. Cùng lĩnh vực, nghiên cứu của Sabah 2016 được thực hiện thông qua khảo sát 528 sinh viên năm ba và năm tư ngành Quản trị kinh doanh 232 nam và 296 nữ đến từ ba thành phố của Thổ Nhĩ Kỳ Istanbul, Ankara và İzmir. Lý thuyết hành vi dự định Ajzen, 1991 được sử dụng để xây dựng mô hình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu thể hiện các yếu tố trong mô hình đều có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, gồm thái độ đối với hành vi, nhận thức kiểm soát hành vi và quy chuẩn chủ quan. Còn Ambad và Damit 2016 thực hiện nghiên cứu về các nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên tại Malaysia thông qua khảo sát 351 sinh viên đại học đến từ Trường Đại học cộng đồng Malaysia. Kết quả nghiên cứu cho thấy có ba nhân tố có sự ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên là thái độ cá nhân ảnh hưởng mạnh nhất, quy chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Nghiên cứu trong nước Hoang và Bui 2013 đã thực hiện nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của nữ học viên đang theo học chuyên ngành MBA tại TP. HCM. Kết quả nghiên cứu thể hiện các yếu tố như 174 Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 nguồn vốn, đặc điểm cá nhân, hỗ trợ từ gia đình đều có sự ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp. Hạn chế của nghiên cứu là chỉ thực hiện khảo sát tại TP. HCM ở ba trường đại học mà bỏ qua khảo sát các nữ học viên MBA tại các trung tâm đào tạo bên ngoài khác quốc tế, đào tạo ngắn hạn…. Phan và Giang 2015 xây dựng mô hình ý định khởi nghiệp của sinh viên khoa kinh tế và Quản trị kinh doanh QTKD Trường Đại học Cần Thơ với các yếu tố tác động gồm thái độ, quy chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi, giáo dục và nguồn vốn. Tuy nhiên mô hình nghiên cứu đã bỏ qua một số nhân tố khác, chẳng hạn như đặc điểm tính cách và kinh nghiệm. Do 2016 nghiên cứu ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên QTKD tại Trường Đại học Lao động – Xã hội, cơ sở TP. HCM. Kết quả nghiên cứu cho thấy cả bốn yếu tố tính cách cá nhân, giáo dục và đào tạo, kinh nghiệm và nguồn vốn đều ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên. Hạn chế của nghiên cứu là bỏ qua sự tác động của một số yếu tố khác như thái độ hoặc nhận thức của sinh viên về khởi nghiệp kinh doanh và bỏ qua các sinh viên các ngành khác. Tóm lại, với những hạn chế đã có ở các nghiên cứu trước và sự khuyến khích thực hiện nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của sinh viên ở nhiều vùng khác nhau do các nền văn hóa khác nhau thì sẽ cho kết quả nghiên cứu khác nhau Sabah, 2016, nghiên cứu này là cần thiết thực hiện. Nghiên cứu thực hiện trên đối tượng khảo sát là sinh viên năm cuối bậc đại học và cao đẳng thuộc tất cả các ngành đang được đào tạo tại trường. Mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa theo lý thuyết của Ajzen 1991, nhưng có bổ sung các yếu tố từ các nghiên cứu trước sao cho phù hợp. Giả thuyết về sự ảnh hưởng của các nhân tố đến ý định khởi nghiệp Thái độ đối với hành vi Attitude toward the behavior Ajzen 1991 định nghĩa thái độ đối với hành vi là nhận thức về nhu cầu cá nhân đối với việc thực hiện hành vi. Đây cũng là mức độ mà cá nhân đánh giá hành vi được thực hiện có lợi hay không có lợi. Trong nghiên cứu này, hành vi được đề cập là hành vi khởi nghiệp. Autio, Keeley, Klofsten, Parker, và Hay 2001 khi nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của sinh viên tại một số trường đại học ở các nước Bắc Âu và Mỹ đã kết luận rằng thái độ đối với hành vi là yếu tố có tầm ảnh hưởng tích cực quan trọng thứ hai đối với ý định khởi nghiệp. Tương tự, nghiên cứu của Lüthje và Franke 2003 cũng cho rằng thái độ đối với hành vi có ảnh hưởng tích cực và mạnh mẽ lên ý định khởi nghiệp của sinh viên. Còn kết quả nghiên cứu của Liñán và Chen 2009 tại Tây Ban Nha và Đài Loan thể hiện sự tác động của thái độ đối với hành vi lên ý định khởi nghiệp là một sự tác động cùng chiều, trong đó, thái độ của sinh viên tại Tây Ban Nha có mức độ ảnh hưởng mạnh nhất đến ý định khởi nghiệp. Từ các luận điểm trên, nghiên cứu đề xuất giả thuyết H1 như sau Giả thuyết H1 Thái độ đối với hành vi có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Quy chuẩn chủ quan Subjective norm Quy chuẩn chủ quan được định nghĩa là các áp lực xã hội đến từ gia đình, bạn bè, người thân hay những người quan trọng đối với cá nhân…, áp lực này có thể là sự kỳ vọng, ủng hộ hoặc không ủng hộ thực hiện hành vi khởi nghiệp, từ đó dẫn đến việc cá nhân sẽ quyết định thực hiện hoặc không thực hiện hành vi sau này Ajzen, 1991. Bird 1988 kết luận một cá nhân sẽ lựa chọn thực hiện hành vi theo cách mà họ cảm nhận rằng những người khác trong xã hội mong chờ họ. Nghiên cứu của Autio và cộng sự 2001 hay nghiên cứu của Gird và Bagraim 2008 đều thể hiện sự tác động tích cực của quy chuẩn chủ quan đến ý định khởi nghiệp, mặc dù mức Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 175 độ ảnh hưởng không là mạnh mẽ nhất. Dựa vào các quan điểm trên, nghiên cứu đề xuất giải thuyết H2 như sau Giả thuyết H2 Quy chuẩn chủ quan có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Nhận thức kiểm soát hành vi Perceived behavioral control Theo Ajzen 1991, nhận thức kiểm soát hành vi được định nghĩa là quan niệm của cá nhân về sự dễ dàng hoặc khó khăn trong việc thực hiện hành vi, có liên quan đến những kinh nghiệm trong quá khứ cũng như dự đoán những trở ngại trong tương lai. Trong một bài phân tích tổng hợp của 185 nghiên cứu thực nghiệm, Armitage và Conner 2001 đã kết luận, nhận thức kiểm soát hành vi trong lý thuyết hành vi dự định rất có hiệu quả đối với việc thúc đẩy cả về ý định lẫn hành vi khởi nghiệp của cá nhân. Khi thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ giữa thuyết hành vi dự định, các yếu tố môi trường, các yếu tố nhân khẩu học với ý định khởi nghiệp của sinh viên tại Kenya, Amos và Alex 2014 đã chỉ ra rằng nhận thức kiểm soát hành vi là yếu tố có ý nghĩa cũng như ảnh hưởng tích cực đến biến phụ thuộc. Trước đó, nghiên cứu của Gird và Bagraim 2008 cũng cho một kết quả tương tự về tác động dương của nhận thức kiểm soát hành vi lên ý định khởi nghiệp của sinh viên. Dựa trên các luận điểm này, nghiên cứu đề xuất giả thuyết H3 như sau Giả thuyết H3 Nhận thức kiểm soát hành vi có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Giáo dục khởi nghiệp Entrepreneurship education Isaacs, Visser, Friedrich, và Brijlal 2007 định nghĩa “giáo dục khởi nghiệp” là sự can thiệp có mục đích của các nhà giáo dục trong việc truyền đạt những kiến thức cũng như kỹ năng cần thiết để người học có thể tồn tại được trong thế giới kinh doanh. Kuratko 2005 nhận định ý định khởi nghiệp sẽ trở nên mạnh mẽ hơn khi có sự tác động của hoạt động giảng dạy, đào tạo về khởi nghiệp tại trường đại học. Theo Turker và Selcuk 2009, nếu một trường đại học cung cấp đầy đủ kiến thức và nguồn cảm hứng cho sinh viên, đặc biệt là những kiến thức về khởi nghiệp thì ý định lựa chọn thực hiện khởi nghiệp sẽ tăng lên. Nghiên cứu của Wang và Wong 2004 cũng chỉ ra rằng giáo dục khởi nghiệp có sự ảnh hưởng tích cực đáng kể đến ý định tự kinh doanh. Từ những luận điểm này, nghiên cứu đề xuất giả thuyết H4 như sau Giả thuyết H4 Giáo dục khởi nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Kinh nghiệm Experience Theo Obschonka, Silbereisen, và Schmitt-Rodermund 2010, kinh nghiệm trong nghiên cứu về khởi nghiệp được hiểu là những trải nghiệm trong việc làm của sinh viên làm bán thời gian, hợp đồng… có liên quan đến kinh doanh. T. T. Nguyen 2015 và Do 2016 bổ sung thêm kinh nghiệm còn là trải nghiệm với các vị trí quản lý mà sinh viên từng đảm nhiệm chẳng hạn quản lý cấp lớp, cấp đoàn thể trong nhà trường, câu lạc bộ…. Như vậy, kinh nghiệm trong đề tài này sẽ được hiểu đồng thời theo quan điểm của các nghiên cứu trên. Devonish, Alleyne, Charles-Soverall, Young, Marshall, và Pounder 2010 đã đưa ra kết luận các kinh nghiệm liên quan đến kinh doanh, bán hàng của cá nhân có ảnh hưởng cùng chiều đến ý định khởi nghiệp của cá nhân đó sau này. Nghiên cứu của Suan và cộng sự 2011 tại Malaysia cho rằng kinh nghiệm của sinh viên có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp. Rasli, Khan, Malekifar, và Jabeen 2013 cũng cho một kết quả nghiên cứu tương tự về tầm ảnh hưởng của kinh nghiệm đến ý định khởi nghiệp. Dựa trên những luận điểm này, nghiên cứu đề xuất giả thuyết H5 như sau 176 Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 Giả thuyết H5 Kinh nghiệm có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Đặc điểm tính cách Personality traits Theo Nga và Shamuganathan 2010, đặc điểm tính cách của một cá nhân được định nghĩa là mô thức thường xuyên của hành vi, suy nghĩ hay cảm xúc. Đây là những đặc điểm bền vững, giải thích cho sự khác biệt của hành vi trong những tình huống tương tự nhau. Kickul và Gundry 2002 khi nghiên cứu về đặc điểm tính cách đã đo lường yếu tố này với các biến quan sát liên quan đến sự đối mặt và vượt qua trở ngại, giỏi xác định cơ hội và thích được thử thách với hiện trạng. Trong đề tài này, đặc điểm tính cách sẽ được đo lường theo hướng tính cách chủ động dựa trên quan điểm của Kickul và Gundry 2002. Nghiên cứu của Suan và cộng sự 2011 khẳng định rằng có một sự ảnh hưởng tích cực mạnh mẽ của đặc điểm tính cách lên ý định khởi nghiệp. Còn Karabulut 2016 cũng đưa ra mối quan hệ cùng chiều về tác động của đặc điểm tính cách cá nhân đối với ý định khởi nghiệp. Như vậy, dựa vào những luận điểm trên, nghiên cứu đề xuất giả thuyết H6 như sau Giả thuyết H6 Đặc điểm tính cách có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Nguồn vốn Capital Theo Mazzarol, Volery, Doss, và Thein 1999, nguồn vốn là một khía cạnh hay một đặc điểm kinh tế. Trong nghiên cứu ở đây, nguồn vốn được hiểu là tiền được sử dụng cho hoạt động khởi nghiệp. Nguồn vốn có thể đến từ sự hỗ trợ của gia đình, bạn bè, từ sự vay mượn, từ sự tiết kiệm của cá nhân hoặc các nguồn hỗ trợ khác. Nghiên cứu của Mazzarol và cộng sự 1999 cho rằng nguồn vốn sẵn có nằm trong nhóm yếu tố môi trường kinh tế tác động dương đến ý định khởi nghiệp. Zain và cộng sự 2010 đã xây dựng mô hình các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, trong đó có yếu tố về nguồn vốn, và kết quả thể hiện sự ảnh hưởng tích cực của nguồn vốn lên ý định khởi nghiệp. Từ những quan điểm trên, nghiên cứu đề xuất giả thuyết H7 như sau Giả thuyết H7 Nguồn vốn có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất Nhận thức kiểm soát hành vi Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 177 3. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Nghiên cứu định tính Thực hiện thảo luận nhóm và thảo luận tay đôi. Trong đó, đối tượng thảo luận là các sinh viên năm cuối ngành Quản Trị Kinh Doanh QTKD, các giảng viên thuộc bộ môn QTKD làm việc tại trường thảo luận nhóm và cựu sinh viên của trường đã khởi nghiệp thành công thảo luận tay đôi. Trong mỗi buổi thảo luận, ý kiến của các thành viên tham gia đều được ghi nhận đầy đủ làm cơ sở cho việc hiệu chỉnh mô hình và thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp. Kết quả nghiên cứu định tính thể hiện các thành viên tham gia thảo luận đều thống nhất bảy yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Tiền Giang bao gồm thái độ đối với hành vi, quy chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi, giáo dục khởi nghiệp, kinh nghiệm, đặc điểm tính cách và nguồn vốn. Về thang đo, các thành viên tham gia thảo luận có góp ý điều chỉnh câu văn cho phù hợp; bổ sung ba biến trong mỗi thang đo của yếu tố quy chuẩn chủ quan, giáo dục khởi nghiệp và đặc điểm tính cách. Nghiên cứu định lượng Tổng thể nghiên cứu Là tất cả các sinh viên năm cuối năm ba cao đẳng và năm tư đại học đang học tại Trường Đại học Tiền Giang. Theo số liệu thống kê từ phòng công tác sinh viên đến tháng 11/2019, trường Đại học Tiền Giang có 1,035 sinh viên năm cuối. Lý do chọn đối tượng này vì đây là nhóm sinh viên đã có một thời gian dài học tập tại trường, đã được tiếp cận với kiến thức chuyên ngành cũng như hiểu biết rõ về các hoạt động của nhà trường. Ngoài ra, nhóm sinh viên này đang trong giai đoạn lựa chọn nghề nghiệp hoặc bắt đầu nghĩ đến những định hướng nghề nghiệp tương lai. Kích thước mẫu Theo T. D. Nguyen 2011, kích thước mẫu cần cho nghiên cứu định lượng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như phương pháp xử lý dữ liệu hồi quy, phân tích nhân tố khám phá EFA hay độ tin cậy cần thiết. T. D. Nguyen 2011 cho rằng để thực hiện phân tích nhân tố khám phá EFA, kích thước mẫu sẽ được tính bởi công thức n = k * số biến quan sát trong đó, k là tỷ lệ quan sát/biến quan sát, k thường là 5/1. Với số biến quan sát của mô hình nghiên cứu là 44 và hệ số k là 5/1 thì kích thước mẫu tối thiểu cần cho nghiên cứu là 220. Cũng theo T. D. Nguyen 2011, để thực hiện phân tích hồi quy bội, kích thước mẫu thường được tính theo công thức n 50 + 8k trong đó, k là số biến độc lập của mô hình. Với số biến độc lập của mô hình nghiên cứu là bảy thì kích thước mẫu tối thiểu cần cho nghiên cứu là 106. Như vậy, xét các yêu cầu của phân tích EFA cũng như phân tích hồi quy bội, đồng thời xét giới hạn về mặt thời gian, số quan sát của nghiên cứu là 280 sẽ phù hợp. Chọn mẫu Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất với kỹ thuật chọn mẫu định mức bởi sự thuận tiện về mặt thời gian và chi phí, trong đó chọn mẫu định mức sẽ thực hiện phân nhóm tổng thể theo hai thuộc tính kiểm soát là bậc đào tạo cao đẳng và đại học và khoa 178 Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 quản lý ngành đào tạo, rồi thực hiện chọn mẫu thuận tiện khảo sát đối tượng có thể tiếp cận được. Cũng theo số liệu thống kê đến tháng 11/2019 của phòng công tác sinh viên, tỷ lệ sinh viên đại học là và cao đẳng là Các khoa quản lý ngành đào tạo gồm các ngành thuộc khoa Kinh tế - Luật KT-L, các ngành thuộc khoa Kỹ Thuật và Công Nghệ Thông Tin KT & CNTT, các ngành thuộc khoa Nông Nghiệp và Công Nghệ Thực Phẩm NN & CNTP, các ngành thuộc khoa Sư Phạm và Xã Hội Nhân Văn SP & XHNV, có tỷ lệ sinh viên lần lượt là Như vậy, chọn mẫu định mức với 280 sinh viên phân bổ theo bậc đào tạo và khoa quản lý ngành sẽ có 08 kết hợp là 2bậc đào tạo * 4khoa quản lý ngành. Bảng 1 Bảng chọn mẫu định mức theo bậc đào tạo và khoa quản lý ngành đào tạo Khoa quản lý ngành đào tạo Nguồn công thức tính toán T. D. Nguyen 2011 Thu thập dữ liệu Dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát. Thang đo Likert 5 mức độ, trong đó 1 = rất không đồng ý, 2 = không đồng ý, 3 = trung lập, 4 = đồng ý và 5 = rất đồng ý, được dùng để đo lường mức độ đồng ý của người được khảo sát cho từng phát biểu. Phân tích dữ liệu Dữ liệu sẽ được nhập, mã hoá, làm sạch và phân tích thông qua thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA Exploratory Factor Analysis và hồi quy tuyến tính đa biến với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận Kết quả nghiên cứu Thống kê mô tả mẫu khảo sát Tổng số phiếu phát ra là 280 phiếu. Sau khi kiểm tra, có 10 phiếu không hợp lệ do đối tượng khảo sát không trả lời đầy đủ các thông tin trong bảng câu hỏi hoặc với cùng một phát biểu nhưng chọn nhiều mức độ khác nhau. Như vậy, số phiếu còn lại hợp lệ được dùng để đưa vào phân tích là 270 phiếu. Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 179 Bảng 2 Thống kê mô tả mẫu khảo sát Khoa quản lý ngành đào tạo Tình trạng tham gia các hoạt động liên quan đến khởi nghiệp Nguồn Kết quả xử lý SPSS Thống kê mô tả thang đo Bảng 3 Thống kê mô tả các thang đo Thang đo “Thái độ đối với hành vi” Việc trở thành chủ doanh nghiệp đối với anh/chị có lợi hơn bất lợi Chủ doanh nghiệp là một nghề rất hấp dẫn đối với anh/chị Anh/chị sẽ rất hài lòng khi làm chủ doanh nghiệp Trong số các lựa chọn công việc khác nhau, anh/chị thích kinh doanh Thang đo “Quy chuẩn chủ quan” Gia đình luôn ủng hộ công việc của anh/chị Bạn bè luôn ủng hộ công việc của anh/chị Những người quan trọng khác đối với anh/chị luôn 180 Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 ủng hộ công việc của anh/chị Anh/chị biết nhiều doanh nhân thành công Anh/chị rất ngưỡng mộ những doanh nhân thành công Anh/chị thường nghiên cứu các doanh nhân thành công Thang đo “Nhận thức kiểm soát hành vi” Anh/chị nhận thấy thật dễ dàng để bắt đầu kinh doanh Anh/chị biết cách để phát triển một dự án kinh doanh Anh/chị biết cụ thể những việc cần làm để tiến hành kinh doanh Anh/chị có thể kiểm soát được quá trình hoạt động của một doanh nghiệp mới Nếu anh/chị cố gắng, anh/chị sẽ thành công trong việc kinh doanh Thang đo “Giáo dục khởi nghiệp” Tại trường đại học, anh/chị được cung cấp những kiến thức cần thiết về kinh doanh Tại trường đại học, anh/chị được cung cấp những kỹ năng cần thiết về kinh doanh Tại trường đại học, anh/chị được khuyến khích phát triển những ý tưởng kinh doanh sáng tạo Tại trường đại học, anh/chị được khuyến khích tham gia cuộc thi “Sinh viên khởi nghiệp” Tại trường đại học, anh/chị được khuyến khích tham gia các lớp tập huấn “Khởi sự kinh doanh” Anh/chị thường tự học để có kiến thức kinh doanh Anh/chị đã từng làm công việc liên quan đến kinh doanh Anh/chị đã từng tham gia công tác quản lý cán bộ lớp, cán bộ Đoàn,… Anh/chị đã từng là thành viên của câu lạc bộ kinh doanh trong hoặc ngoài nhà trường Anh/chị đã từng tham gia các hoạt động ngoại khóa tại các doanh nghiệp Anh/chị đã từng tham gia các buổi hội thảo về kinh doanh Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 181 Thang đo “Đặc điểm tính cách” Anh/chị là người dám đối mặt với trở ngại Anh/chị là người dám vượt qua mọi trở ngại Anh/chị là người rất giỏi trong việc xác định các cơ hội Anh/chị là người thích được thử thách với những nhiệm vụ khó khăn Anh/chị là người dám chấp nhận rủi ro Anh/chị là người có tính sáng tạo Anh/chị là người thích tự lập Anh/chị có thể vay, mượn tiền từ gia đình và bạn bè Anh/chị có thể vay tiền từ các tổ chức tài chính như ngân hàng, quỹ tín dụng Anh/chị có thể tích lũy vốn từ việc làm thêm hoặc tiết kiệm Địa phương anh/chị có các chính sách hỗ trợ vốn cho thanh niên Anh/chị dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn Thang đo “Ý định khởi nghiệp” Mục tiêu nghề nghiệp của anh/chị là khởi sự kinh doanh Anh/chị có mong muốn mạnh mẽ để khởi sự kinh doanh trong tương lai Anh/chị muốn là người chủ doanh nghiệp hơn là nhân viên Anh/chị có sự suy nghĩ nghiêm túc về việc khởi sự kinh doanh sau này Anh/chị sẵn sàng làm mọi việc cần thiết để khởi sự kinh doanh Nếu có cơ hội, anh/chị sẽ khởi sự kinh doanh Nguồn Kết quả xử lý SPSS Kiểm định độ tin cậy của thang đo qua hệ số Cronbach’s Alpha Theo T. D. Nguyen 2011, một thang đo có thể chấp nhận được về mặt độ tin cậy nếu Cronbach Alpha và hệ số tương quan biến - tổng của biến quan sát lớn hơn Về lý thuyết, hệ số Cronbach’s Alpha càng lớn thì thang đo có độ tin cậy càng cao. Tuy nhiên, nếu hệ số này quá lớn > thì lại cho thấy nhiều biến trong thang đo không có khác biệt nhau. Còn 182 Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 theo Hoang và Chu 2008, nếu hệ số Cronbach Alpha từ trở lên là có thể sử dụng được. Vậy, để kiểm định chất lượng thang đo, nghiên cứu sử dụng Cronbach’s Alpha và hệ số tương quan biến - tổng > Nghiên cứu đã tiến hành thực hiện phân tích độ tin cậy của thang đo 02 lần. Sau khi thực hiện phân tích độ tin cậy thang đo lần 01, các biến quan sát QC6, KS5, KN5, TC3, TC6 và NV5 đều bị loại do có hệ số tương quan biến – tổng nhỏ hơn Sau thực hiện phân tích độ tin cậy thang đo lần 02, các thang đo đều đạt yêu cầu về độ tin cậy để tiếp tục thực hiện phân tích nhân tố khám phá EFA. Bảng 4 Bảng Cronbach’s Alpha thang đo các biến lần 02 Trung bình thang đo nếu loại biến Hệ số tương quan biến-tổng Hệ số Cronbach's Alpha nếu loại biến Thang đo “Thái độ đối với hành vi” - Hệ số Cronbach's Alpha Thang đo “Quy chuẩn chủ quan” - Hệ số Cronbach's Alpha Thang đo “Nhận thức kiểm soát hành vi” - Hệ số Cronbach's Alpha Thang đo “Giáo dục khởi nghiệp” - Hệ số Cronbach's Alpha Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 183 Trung bình thang đo nếu loại biến Hệ số tương quan biến-tổng Hệ số Cronbach's Alpha nếu loại biến Thang đo “Kinh nghiệm” - Hệ số Cronbach's Alpha Thang đo “Đặc điểm tính cách” - Hệ số Cronbach's Alpha Thang đo “Nguồn vốn” - Hệ số Cronbach's Alpha Thang đo “Ý định khởi nghiệp” - Hệ số Cronbach's Alpha Nguồn Kết quả xử lý SPSS Phân tích nhân tố khám phá – EFA a. Phân tích EFA các biến độc lập Hệ số KMO = > đồng thời căn cứ vào kiểm định Bartlett với Sig. = 1, nghiên cứu xác định có bảy nhân tố được trích ra từ dữ liệu khảo sát với tổng phương sai trích cumulative % là > 50%. Ma trận xoay nhân tố Rolated Component Matrix với phép xoay Varimax xác định cụ thể bảy nhóm nhân tố như sau 184 Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 Bảng 5 Bảng ma trận xoay nhân tố các biến độc lập EFA lần 02 Nguồn Kết quả xử lý SPSS Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 185 - Nhân tố 1 bao gồm các biến quan sát GD1, GD2, GD3, GD4, GD5, GD6. Nhân tố này được đặt tên là “Giáo dục khởi nghiệp” ký hiệu GD. - Nhân tố 2 bao gồm các biến quan sát QC1, QC2, QC3, QC4, QC5. Nhân tố này được đặt tên là “Quy chuẩn chủ quan” ký hiệu QC. - Nhân tố 3 bao gồm các biến quan sát TC1, TC2, TC4, TC5, TC7. Nhân tố này được đặt tên là “Đặc điểm tính cách” ký hiệu TC. - Nhân tố 4 bao gồm các biến quan sát NV1, NV2, NV3, NV4. Nhân tố này được đặt tên là “Nguồn vốn” ký hiệu NV. - Nhân tố 5 bao gồm các biến quan sát TD1, TD2, TD3, TD4. Nhân tố này được đặt tên là “Thái độ đối với hành vi” ký hiệu TD. - Nhân tố 6 bao gồm các biến quan sát KS2, KS3, KS4. Nhân tố này được đặt tên là “Nhận thức kiểm soát hành vi” ký hiệu KS. - Nhân tố 7 bao gồm các biến quan sát KN1, KN2, KN3. Nhân tố này được đặt tên là “Kinh nghiệm” ký hiệu KN. b. Phân tích EFA biến phụ thuộc Hệ số KMO = > kiểm định Bartlett với Sig. = 1 cho thấy sự hội tụ của phép phân tích dừng ở nhân tố thứ nhất, tổng phương sai trích cumulative % là > 50%, hệ số tải nhân tố đều lớn hơn Như vậy, kết quả phân tích EFA biến phụ thuộc thể hiện có một nhân tố được rút trích từ sáu biến quan sát của thang do ý định khởi nghiệp, và nhân tố này giải thích đến sự biến thiên của bộ dữ liệu. Từ kiểm định KMO và Bartlett, phân tích EFA trong nghiên cứu này là phù hợp. Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến Phân tích tương quan Bảng 6 Ma trận hệ số tương quan Pearson Nguồn Kết quả xử lý SPSS 186 Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 Theo kết quả từ Bảng 6, các biến độc lập đều có tương quan với biến phụ thuộc, còn hệ số tương quan giữa các biến độc lập là rất thấp nên không phát hiện hiện tượng đa cộng tuyến. Tuy nhiên, việc kiểm tra đa cộng tuyến khi phân tích hồi quy vẫn được thực hiện để đảm bảo độ tin cậy cho kết quả nghiên cứu. Kiểm định sự phù hợp của mô hình Bảng 7 Bảng tóm tắt mô hình Nguồn Kết quả xử lý SPSS R2 hiệu chỉnh = có nghĩa là mô hình hồi quy tuyến tính đa biến đã xây dựng phù hợp với tập dữ liệu đến Ngoài ra, giá trị Sig. = mức ý nghĩa 5%, giả thuyết H1 và H7 không được chấp nhận. Các biến độc lập còn lại đều có ý nghĩa thống kê do có giá trị Sig. = trong kiểm định T T-test, giá trị Sig. = trong kiểm định T T-test, giá trị Sig. = > mức ý nghĩa 5% nên không có sự khác biệt về ý định khởi nghiệp của sinh viên bậc cao đẳng và sinh viên bậc đại học tại trường. Theo tình trạng tham gia các hoạt động liên quan đến khởi nghiệp Kiểm định Levene có giá trị Sig. = 0,981 > trong kiểm định T T-test, giá trị Sig. = > mức ý nghĩa 5% nên không có sự khác biệt về ý định khởi nghiệp giữa những sinh viên có tham gia và không có tham gia các hoạt động liên quan khởi nghiệp. Thảo luận Kết quả nghiên cứu cho thấy có năm nhân tố ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên tại Trường Đại học Tiền Giang, được sắp xếp theo mức độ ảnh hưởng giảm dần bao gồm đặc điểm tính cách β = giáo dục khởi nghiệp β = kinh nghiệm β = nhận thức kiểm soát hành vi β = và quy chuẩn chủ quan β = Không giống nhiều nghiên cứu trước Ambad & Damit, 2016; Hoang & Bui, 2013; Phan & Giang, 2015; Sabah, 2016, nghiên cứu này kết luận “nguồn vốn” và “thái độ đối với hành vi” không có ý nghĩa thống kê. Đối với đặc điểm tính cách Đây là nhân tố có mức độ tác động mạnh nhất so với các nhân tố còn lại β = Nhân tố này trong nghiên cứu được xem xét trên phương diện của tính cách chủ động, rất cần có ở người muốn khởi nghiệp kinh doanh. Kết quả phân tích hồi quy bội thể hiện đặc điểm tính cách có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp và giả thuyết H7 được chấp nhận. Nếu sinh viên của trường được trau dồi, rèn luyện để hình thành những đặc điểm tính cách chủ động như bản lĩnh dám đối mặt với trở ngại, tính tự lập, dám chấp nhận rủi ro, … thì ý định khởi nghiệp của sinh viên càng trở nên mạnh mẽ. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu trước đây của Suan và cộng sự 2011 hay nghiên cứu của Hoang và Bui 2013. Đối với giáo dục khởi nghiệp Đây là nhân tố có mức độ tác động mạnh thứ hai β = Kết quả phân tích hồi quy bội thể hiện giáo dục khởi nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp và giả thuyết H4 được chấp nhận. Điều này có nghĩa, nếu sinh viên càng nhận được nhiều sự giáo dục về khởi nghiệp tại trường đại học thì ý định khởi nghiệp của sinh viên cũng sẽ tăng lên. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu trước đây của Suan và cộng sự 2011 hay Zhang và cộng sự 2014. Thực tế trong thời gian qua, nhà trường luôn quan tâm đến việc phát triển những ý tưởng kinh doanh 188 Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 sáng tạo trong sinh viên thông qua cuộc thi “Sinh viên khởi nghiệp” hay các lớp học ngắn hạn về lập kế hoạch kinh doanh. Giáo dục khởi nghiệp tại trường không chỉ trang bị kiến thức, kỹ năng kinh doanh cho sinh viên mà còn định hướng thái độ đúng đắn đối với khởi nghiệp. Đối với kinh nghiệm Đây là nhân tố có mức độ tác động mạnh thứ ba β = Kết quả phân tích hồi quy bội thể hiện kinh nghiệm có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp và giả thuyết H5 được chấp nhận. Như vậy, những sinh viên nào đã từng trải nghiệm với các hoạt động kinh doanh, bán hàng hoặc quản lý lớp, câu lạc bộ, … tại trường đại học thì ý định khởi nghiệp của sinh viên đó sẽ càng mạnh mẽ. Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Suan và cộng sự 2011 hay Do 2016. Sự trải nghiệm đối với các hoạt động kinh doanh thực tiễn hay tham gia các chương trình thực tập sinh tại các công ty, doanh nghiệp… là rất quan trọng để giúp sinh viên biết được mình cần phải làm những gì khi lựa chọn con đường khởi nghiệp kinh doanh sau này. Đối với nhận thức kiểm soát hành vi Đây là nhân tố có mức độ tác động mạnh thứ tư β = Kết quả phân tích hồi quy bội thể hiện nhận thức kiểm soát hành vi có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp và giả thuyết H3 được chấp nhận. Điều này có nghĩa, nếu nhận thức kiểm soát hành vi của sinh viên tăng thì ý định khởi nghiệp của sinh viên cũng tăng theo. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu trước đó của Ambad và Damit 2016, Sabah 2016 hay Phan và Giang 2015. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của nhận thức kiểm soát hành vi trong nghiên cứu này không được mạnh mẽ so với các nghiên cứu trước đó. Ngoài ra, nhiều sinh viên chưa biết cách phát triển một dự án kinh doanh thực tế cũng như cách thức kiểm soát quá trình hoạt động của một doanh nghiệp mới nên sự đánh giá của sinh viên nhà trường đối với nhân tố này không cao trung bình đánh giá thang đo của nhân tố này là thấp nhất trong các thang đo. Đối với quy chuẩn chủ quan Kết quả phân tích hồi quy bội thể hiện quy chuẩn chủ quan có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp và giả thuyết H2 được chấp nhận. Điều này có nghĩa, nếu sinh viên nhận được nhiều sự ủng hộ từ gia đình, người thân, bạn bè hay những người quan trọng khác thì ý định khởi nghiệp của sinh viện cũng sẽ tăng lên. Đây là nhân tố có mức độ tác động yếu nhất trong các nhân tố β = Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Ambad và Damit 2016, Sabah 2016, hay nghiên cứu của Phan và Giang 2015. Xét một đất nước với nền văn hóa Á Đông như Việt Nam thì suy nghĩ và hành động của cá nhân thường chịu tác động bởi ý kiến của những người xung quanh. Đặc biệt, sinh viên phần lớn là những người đã có thời gian dài sống với gia đình, phụ thuộc vào gia đình thì ý kiến cũng như quan điểm của gia đình có sự ảnh hưởng nhất định đến ý định khởi nghiệp của sinh viên sau này. Hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo Nghiên cứu chỉ thực hiện khảo sát trên đối tượng là sinh viên năm cuối mà bỏ qua các đối tượng sinh viên năm nhất hay năm hai, năm ba. Các nghiên cứu trong tương lai cần mở rộng khảo sát thêm trên các đối tượng sinh viên này để có sự so sánh, đánh giá khách quan hơn về ý định khởi nghiệp. Bên cạnh đó, các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu chỉ giải thích được sự biến thiên của biến phụ thuộc. Điều này có nghĩa mặc dù mô hình nghiên cứu là phù hợp nhưng vẫn còn thuộc về các nhân tố khác chưa được đề cập trong mô hình, chẳng hạn như chính sách địa phương. Các nghiên cứu tiếp theo cần xem xét thêm các nhân tố ảnh hưởng sao cho phù hợp. Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 189 5. Kết luận và hàm ý quản trị Kết luận Nghiên cứu đã đạt được mục tiêu khi xác định năm nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Tiền Giang thông qua phân tích dữ liệu của 270 phiếu khảo sát sinh viên năm cuối. Các nhân tố ảnh hưởng bao gồm đặc điểm tính cách, giáo dục khởi nghiệp, kinh nghiệm, nhận thức kiểm soát hành vi và quy chuẩn chủ quan. Cùng với nguồn vốn thì thái độ đối với hành vi – một trong ba yếu tố của thuyết hành vi dự định của Ajzen 1991 – lại không có ý nghĩa thống kê. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở lý luận cho các nghiên cứu khác cùng lĩnh vực được thực hiện sau này. Ngoài ra, nghiên cứu cũng có một ý nghĩa thực tiễn quan trọng đối với nhà trường trong việc mang đến cái nhìn toàn diện, mới mẻ về ý định khởi nghiệp của sinh viên, từ đó đề ra những chính sách thích hợp nhằm phát huy hơn nữa tinh thần khởi nghiệp đúng đắn trong sinh viên thời gian tới. Hàm ý quản trị Một số hàm ý quản trị được đề xuất để nâng cao ý định khởi nghiệp của sinh viên Xét về đặc điểm tính cách Việc phát triển những đặc điểm tính cách chủ động cho sinh viên cần được chú trọng và tập trung vào các khía cạnh như bản lĩnh đối mặt với trở ngại, thích được thử thách và dám chấp nhận rủi ro. Các hoạt động ngoại khóa nên được nhà trường tổ chức mới hơn, không chỉ đơn thuần mang tính giải trí mà còn mang đến cho sinh viên cảm giác được thử thách chính mình. Bên cạnh những nỗ lực của nhà trường thì sự cố gắng rèn luyện và trau dồi của chính sinh viên là điều không thể thiếu. Sinh viên phải mạnh dạn tham gia nhiều phong trào, cọ xát thực tế thì mới có được bản lĩnh vượt qua mọi rào cản. Xét về giáo dục khởi nghiệp Các lớp tập huấn “khởi sự kinh doanh” phải hướng đến sinh viên nhiều ngành chứ không chỉ dành riêng cho sinh viên kinh tế. Và các lớp này cũng cần được đổi mới theo hướng gia tăng thời lượng kết hợp nâng cao chất lượng và có cấp chứng nhận, thay vì chỉ là các lớp ngắn hạn 03 – 05 ngày như hiện nay. Ngoài ra, định hướng xây dựng riêng một chương trình đào tạo “Quản trị khởi nghiệp” cũng cần được nhà trường xem xét. Nhà trường phải xác định rõ giảng dạy khởi nghiệp không chỉ đơn thuần là truyền đạt kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm kinh doanh mà còn phải truyền được nhiệt huyết, sự yêu thích và đam mê. Xét về kinh nghiệm Nhà trường cần chú trọng hỗ trợ sinh viên nhiều hơn trong việc giới thiệu việc làm thêm cũng như quản lý việc làm thêm để sinh viên tích lũy kinh nghiệm. Sự phối hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp là rất cần thiết nhằm xây dựng nhiều hơn các chương trình thực tập sinh, kiến tập kinh doanh tại các công ty, doanh nghiệp. Kế hoạch thành lập một câu lạc bộ khởi nghiệp cần được nhà trường xem xét. Đó sẽ là mái nhà chung cho những sinh viên yêu thích kinh doanh và muốn rèn luyện, phát triển bản thân với những kỹ năng, kiến thức kinh doanh hữu ích. Xét về nhận thức kiểm soát hành vi Nhận thức tích cực, đúng đắn về khả năng đối với khởi nghiệp rất quan trọng. Để có thể hỗ trợ sinh viên về vấn đề này thì định hướng giảng dạy dự án kinh doanh hay kế hoạch khởi nghiệp kinh doanh của nhà trường hiện tại cần thay đổi theo hướng thiết thực hơn khi mô phỏng một dự án thực tế và giảm lý thuyết. Riêng bản thân sinh viên cũng phải dành thời gian nghiên cứu thêm về các kiến thức kinh doanh liên quan, đặc biệt cập nhật những quy định mới của Nhà 190 Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 nước về việc thành lập doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, ... Xét về quy chuẩn chủ quan Đây là yếu tố mang tính chất xã hội nên vai trò của các tổ chức đoàn thể rất quan trọng. Các hoạt động tuyên truyền hay thực hiện tọa đàm nêu gương những doanh nhân khởi nghiệp thành công sẽ giúp khởi nghiệp được biết đến một cách rộng hơn và được hiểu một cách đúng đắn hơn, từ đó sự ủng hộ của mọi người dành cho khởi nghiệp sẽ tăng lên. Tiền Giang rất cần một “Trung tâm hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp” do tỉnh đoàn và đoàn Trường Đại học Tiền Giang phối hợp thành lập. Có như vậy, khởi nghiệp không còn bị coi là một hoạt động ngẫu hứng, tự phát mà là một hoạt động được sự quan tâm, hỗ trợ của các cơ quan chức năng, từ đó sự ủng hộ khởi nghiệp cũng được nâng cao. Tài liệu tham khảo Ajzen, I. 1991. The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 502, 179-211. Ambad, S. N. A., & Damit, D. H. D. A. 2016. Determinants of entrepreneurial intention among undergraduate students in Malaysia. Procedia Economics and Finance, 372016, 108-114. Amos, A., & Alex, K. 2014. Theory of planned behaviour, contextual elements, demographic factors and entrepreneurial intentions of students in Kenya. European Journal of Business and Management, 615, 167-175. Armitage, C. J., & Conner, M. 2001. Efficacy of the theory of planned behavior A meta‐analytic review. British Journal of Social Psychology, 404, 471-499. Autio, E., Keeley, R. H., Klofsten, M., Parker, G. G. C., & Hay, M. 2001. Entrepreneurial intent among students in Scandinavia and in the USA. Enterprise and Innovation Management Studies, 22, 145-160. Bird, B. 1988. Implementing entrepreneurial ideas The case for intention. Academy of Management Review, 133, 442-453. Devonish, D., Alleyne, P., Charles-Soverall, W., Young, Marshall, A., & Pounder, P. 2010. Explaining entrepreneurial intentions in the Caribbean. International Journal of Entrepreneurial Behavior & Research, 162, 149-171. Do, L. T. H. 2016. Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên quản trị kinh doanh tại trường Đại học Lao động – Xã hội cơ sở thành phố Hồ Chí Minh [Factors affecting the intention to start a business of business administration students at the University of Labor and Social Affairs Ho Chi Minh City campus]. Tạp chí khoa học Yersin, 1, 44-53. Dohse, D., & Walter, S. G. 2012. Knowledge context and entrepreneurial intentions among students. Small Business Economics, 394, 877-895. Gird, A., & Bagraim, J. J. 2008. The theory of planned behaviour as predictor of entrepreneurial intent amongst final-year university students. South African Journal of Psychology, 384, 711-724. Hisrich, R. D., & Drovensek, M. 2002. Entrepreneurship and small business research A european perspective. Journal of Small Business and Enterprise Development, 92, 171-222. Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 191 Hoang, T. T. P., & Bui, C. T. T. 2013. Ý định khởi nghiệp của nữ học viên MBA tại TP. Hồ Chí Minh [The intention of starting a business of female MBA students in Ho Chi Minh City]. Tạp chí Phát triển Kinh tế, 2712013, 10-12. Hoang, T., & Chu, N. N. M. 2008. Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS [Analyze research data with SPSS]. Ho Chi Minh, Vietnam Nhà xuất bản Hồng Đức. Isaacs, E., Visser, K., Friedrich, C., & Brijlal, P. 2007. Entrepreneurship education and training at the Further Education and Training FET level in South Africa. South African Journal of Education, 274, 613-629. Karabulut, A. T. 2016. Personality traits on entrepreneurial intention. Procedia – Social and Behavioral Sciences, 2292016, 12-21. Kickul, J., & Gundry, L. 2002. Prospecting for strategic advantage The proactive entrepreneurial personality and small firm innovation. Journal of Small Business Management, 402, 85-97. Koe, W. L., Sa’ari, J. R., Majid, I. A., & Ismail, K. 2012, Determinants of entrepreneurial intention among millennial generation. Procedia - Social and Behavioral Sciences, 402012, 197-208. Krueger, N. F., & Brazeal, D. V. 1994. Entrepreneurial potential and potential entrepreneurs. Entrepreneurship Theory and Practice, 183, 91-104. Kuckertz, A., & Wagner, M. 2010. The influence of sustainability orientation on entrepreneurial intentions - Investigating the role of business experience. Journal of Business Venturing, 255, 524-539. Kuratko, D. F. 2005. The emergence of entrepreneurship education Development, trends, and challenges. Entrepreneurship Theory and Practice, 295, 577-598. Liñán, F., & Chen, Y. W. 2009. Development and cross‐cultural application of a specific instrument to measure entrepreneurial intentions. Entrepreneurship Theory and Practice, 333, 593-617. Liñán, F., Rodríguez-Cohard, J. C., & Rueda-Cantuche, J. M. 2011. Factors affecting entrepreneurial intention levels A role for education. International Entrepreneurship and Management Journal, 72, 195-218. Lüthje, C., & Franke, N. 2003. The making’of an entrepreneur Testing a model of entrepreneurial intent among engineering students at MIT. R&D Management, 332, 135-147. MacMillan, I. C. 1993. The emerging forum for entrepreneurship scholars. Journal of Business Venturing, 85, 377-381. Mazzarol, T., Volery, T., Doss, N., & Thein, V. 1999. Factors influencing small business start-ups A comparison with previous research. International Journal of Entrepreneurial Behavior & Research, 52, 48-63. Nga, J. K. H., & Shamuganathan, G. 2010. The influence of personality traits and demographic factors on social entrepreneurship start up intentions. Journal of Business Ethics, 952, 259-282. Nguyen, T. D. 2011. Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh [Scientific research methods in business]. Ho Chi Minh City, Vietnam Nhà xuất bản Lao động xã hội. 192 Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 Nguyen, T. T. 2015. Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên đại học [Research on factors influencing college students' entrepreneurial potential]. Unpublished doctoral dissertation. National Economics University, Hanoi, Vietnam. Obschonka, M., Silbereisen, R. K., & Schmitt-Rodermund, E. 2010. Entrepreneurial intention as developmental outcome. Journal of Vocational Behavior, 771, 63-72. Phan, T. A., & Giang, T. T. C. 2015. Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp Trường hợp sinh viên Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh trường Đại học Cần Thơ [Research on factors affecting the intention to start a business The case of students of the Faculty of Economics and Business Administration, Can Tho University]. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 402015, 59-66. Phòng Công tác sinh viên Trường Đại học Tiền Giang. 2019. Báo cáo tình hình học tập của sinh viên học kỳ 1 năm học 2019 – 2020 [Report on the learning situation of students in the first semester of the academic year 2019-2020]. Tien Giang, Vietnam Phòng Công tác sinh viên Trường Đại học Tiền Giang. Rasli, A. M., Khan, S. U. R., Malekifar, S., & Jabeen, S. 2013. Factors affecting entrepreneurial intention among graduate students of Universiti Teknologi Malaysia. International Journal of Business and Social Science, 42, 182-188. Sabah, S. 2016. Entrepreneurial intention Theory of planned behaviour and the moderation effect of start-up experience. In M. Franco Ed., Entrepreneurship-practice – Oriented perspectives pp. 87-101. doi Shapero, A., & Sokol, L. 1982. Some social dimensions of entrepreneurship. In C. A. Kent Ed., Encyclopedia of entrepreneurship pp. 72-90. Englewood Cliffs, NJ Prentice-Hall. Souitaris, V., Zerbinati, S., & Al-Laham, A. 2007. Do entrepreneurship programmes raise entrepreneurial intention of science and engineering students? The effect of learning, inspiration and resources. Journal of Business Venturing, 224, 566-591. Suan, C. T., Ai, Y. J., Raman, K., Loon, K. W., & Tanumihardja, J. 2011. Entrepreneurial intentions among university students. Business & Management Quarterly Review, 23, 33-38. Thủ Tướng Chính phủ. 2017. Quyết định số 1665/QĐ-TTg ngày 30 tháng 10 năm 2017 về việc phê duyệt đề án “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025” [Decision No. 1665/QD-TTg dated October 30, 2017 approving the project “Supporting students and students to start a business by 2025”]. Retrieved May 10, 2020, from Turker, D., & Selcuk, S. S. 2009. Which factors affect entrepreneurial intention of university students? Journal of European Industrial Training, 332, 142-159. Wang, C. K., & Wong, P. K. 2004. Entrepreneurial interest of university students in Singapore. Technovation, 242, 163-172. Zain, Z. M., Akram, A. M., & Ghani, E. K. 2010. Entrepreneurship intention among malaysian business students. Canadian Social Science, 63, 34-44. Zhang, Y., Duysters, G., & Cloodt, M. 2014. The role of entrepreneurship education as a predictor of university students’ entrepreneurial intention. International Entrepreneurship and Management Journal, 103, 623- 641. Nguyen Vo Thy ThyPhan Ngoc Nhu Hoang LongPhung Thi XoanThis study aims to investigate the effects of barriers on entrepreneurial intention among Economics and Management students in Ho Chi Minh City and then analyze and evaluate the impact of these barriers. The authors used 3 main models entrepreneurial Event Model-EEM, Model of Implementing Entrepreneurial Ideas, and Theory of Planned Behavior-TPB. The data were collected from 312 students at Economics and Management universities in Ho Chi Minh City. Next, the authors employed quantitative method such as descriptive statistics, exploratory factor analysis EFA, confirmatory factor analysis CFA, HTMT test, structural equation modeling SEM, Bootstrapping, and Kruskal-Wallis test using SPSS 20 and AMOS 24 software. The results showed that 4 independent variables had an effect on entrepreneurial intention, including Mental Barriers, Market Barriers, Educational Environment Barriers, and Knowledge Barriers. Particularly, Mental Barriers were seen as the most influential barriers to entrepreneurial intention. It was implied that the spirit, knowledge, and business environment were really a concern for students in the start-up stage, and educational background such as knowledge and encouragement of teachers also affected the entrepreneurial intention of Economics and Management students. Additionally, there were 5 groups with statistically significant differences in the students' Entrepreneurial Intentions 1 Gender, 2 School year, 3 University, 4 Major, and 5 Parents' careers. The study has filled a research gap by providing important insights into the barriers to entrepreneurial intention among Economics and Management students in Ho Chi Minh City. In practical terms, it helps students recognize obstacles and how to overcome them when making decisions while establishing a business. This study also provides educators and policymakers with solutions and governance implications for driving students' entrepreneurial intentions. Senay SabahEntrepreneurial activity is considered to be an intentionally planned behaviour. Consequently, entrepreneurial intention EI may be evaluated via theory of planned behaviour TPB. According to Ajzen’s TPB, EI is explained by three antecedents attitude towards entrepreneurial behaviour, perceived social norms and perceived behaviour control in other words, self‐efficacy. Although this model is widely tested empirically, new research regarding moderation effects may be valuable [1]. Moreover, [2] argues that personal factors such as previous start‐up experience are relevant concerning the model. Accordingly, in this study, moderation effect of start‐up experience is added in TPB model from a convenience sample of 528 undergraduate business administration students from the three most economically developed cities in Turkey. Hypotheses are tested by means of hierarchical multiple regression analysis. Coefficients are estimated using ordinary least squares. In order to test the moderator effect, significance values of the interaction term is assessed. According to the results, all of the relations within the model are significant. Ajzen’s TPB holds for the Turkish case. Moreover, for the students with a past start‐up experience, the effect of both self‐efficacy and personal attitude towards entrepreneurial behaviour on entrepreneurial intensity increases. This is a promising result for the future studies. tuğba KarabulutInternal locus of control, need for achievement, risk tolerance, and entrepreneurial alertness are dimensions of personality traits which lead a person to develop the entrepreneurial intention. The purpose of this study is to explore the effects of the personality traits on the entrepreneurial intention. The author was inspired from the study of Orman 2009. This study was conducted on 480 graduate students in Turkey. Factor analyses and multiple regression analysis were conducted to the data. It was found that the personality traits had a positive effect on the entrepreneurial paper aims to identify the determinants of entrepreneurial intention among undergraduate students. Since most literature agreed that entrepreneurial intention can be determined by using Theory of Planned Behavior TPB, this theory is used as a theoretical framework in this study. The independent variables of this study consist of perceived educational support, perceived relational support, perceived structural support, personal attitude, and perceived behavioral control. This theoretical framework is verified on 351 undergraduate students in one of the Public University in Malaysia. The results found that personal attitude, perceived behavioural control, and perceived relational support are the predictors to entrepreneurial paper empirically assesses the relationship of entrepreneurial intention and its antecedents among graduating students of UTM. This study is based on the models developed by Davidsson [7] and Autio et al. [1]. Research framework has utilized the modified version of the original study. Work experience, vicarious experience, general attitude, image of entrepreneurship and other demographic variables are tested against entrepreneurial conviction and entrepreneurial intentions. This study supports the proposition that conviction is the strongest variable that has direct influence towards entrepreneurial intention, whereas general attitude has a significant influence as well as those male students with work experience were found to have higher entrepreneurial intention. Based on the outcomes of the study, the paper is concluded by giving the recommendations and a finalized model of entrepreneurial BirdEntrepreneurial intentions, entrepreneurs' states of mind that direct attention, experience, and action toward a business concept, set the form and direction of organizations at their inception. Subsequent organizational outcomes such as survival, development including written plans, growth, and change are based on these intentions. The study of entrepreneurial intentions provides a way of advancing entrepreneurship research beyond descriptive studies and helps to distinguish entrepreneurial activity from strategic assessed the levels of entrepreneurship education and training at the Further Education and Training FET level in a South African context. We are of the opinion that entrepreneurship education and training of necessity must fulfill a primary role in preparing our youth for their future. Evidence from elsewhere, in particular industrialised countries, indicates that entrepreneurship education and training at school level play important roles in the contribution to economic growth. Experts in the field of entrepreneurship believe that the contribution of small to medium-sized enterprises SMEs to the growth of our country can be much higher if entrepreneurship education is implemented at school levels. Entrepreneurship is now one of the outcomes of Grades R - 12. However, our research clearly showed that various problems in schools hinder the effective implementation of entrepreneurship education, some of which are poorly trained educators and lack of adequate resources. Better entrepreneurship education could make a significant contribution to job creation and ultimately to poverty alleviation.
Dự án khởi nghiệp chính là những ý tưởng kinh doanh và được cá nhân bạn hoặc một nhóm bắt tay vào thực hiện và thành lập một doanh nghiệp làm việc theo ý tưởng kinh doanh đó. Khi có cho mình một dự án khởi nghiệp, bạn chính là người trực tiếp quản lý việc điều phối và kinh doanh của doanh nghiệp hoặc cũng có thể quản lý với tư cách là Co-Founder người đồng sáng lập chính vì vậy mà bạn phải ý thức được vai trò và trách nghiệm mà bạn gánh vác. Tất nhiên, thành quả mà bạn đạt được tương xứng với những khó khăn mà bạn trải qua. Rất nhiều người đã thành công với những dự án khởi nghiệp của họ, nếu bạn đang ấp ủ một dự án khởi nghiệp hay đơn giản hơn là đang nghiên cứu về lĩnh vực khởi nghiệp thì bạn có thể tham khảo 10 tài liệu về dự án khởi nghiệp của chúng mình. Giờ thì hãy cùng nhau tìm hiểu nhé. I. Các tài liệu về dự án khởi nghiệp hay nhất1. Dự án khởi nghiệp với thương mại điện tử2. Marketing căn bản dự án khởi nghiệp3. Dự án khởi nghiệp dành cho sinh viên – Mô hình dự án xây dựng4. Dự án khởi nghiệp với thương mại điện tử5. Dự án khởi nghiệp dành cho sinh viên – Dịch vụ cho thuê sách, tìm kiếm tài liệu, mở phòng thư viện6. Khởi nghiệp và đổi mới dự án khởi nghiệp nhà hàng eat clean, healthy food taste of green7. Dự án khởi nghiệp của sinh viên ngoại thương carjam8. Chia sẻ bài giảng Từ ý tưởng đến dự án khởi nghiệp9. Dự án khởi nghiệp kinh doanh nhóm 510. Báo cáo nhập môn kinh doanh dự án khởi nghiệpII. Những lưu ý khi tiến hành xây dựng một dự án khởi nghiệp1. Đầu tiên, bạn phải biết rằng mọi dự án khởi nghiệp đều có 2 đặc điểm chung 2. Các thành phần trong một dự án khởi nghiệp3. Các bước cơ bản để thực hiện một dự án khởi nghiệpIII. Những dự án khởi nghiệp thành công nhất thế giớiBÀI VIẾT CÙNG CHỦ ĐỀ 1. Dự án khởi nghiệp với thương mại điện tử Đây là một đề tài do sinh viên thực hiện, hướng đến xây dựng một hệ thống bán hàng trên mạng. Đề tài chỉ ra thực trạng việc bán hàng truyền thống gặp nhiều khó khăn, không đem lại hiệu quả cao đồng thời chỉ ra một số ví dụ về các doanh nghiệp lớn, các thương hiệu hàng đầu đang chuyển hướng sang lĩnh vực bán hàng online từ đó đề xuất thực hiện áp dụng hình thức bán hàng online rộng rãi, trải khắp trên thị trường. Dự án khởi nghiệp với thương mại điện tử Download tài liệu 2. Marketing căn bản dự án khởi nghiệp Đây là một đề tài nghiên cứu do một nhóm sinh viên thực hiện và được đánh giá rất cao bởi người hướng dẫn bởi tính logic và khả năng áp dụng vào thực tiễn của đề tài. Tài liệu này hướng dẫn các bạn từ bước lên ý tưởng đến việc tạo ra sản phẩm và đưa được sản phẩm ra thị trường, ứng dụng vào cuộc sống. Có thể nói là cực kỳ chi tiết và khoa học. Marketing căn bản dự án khởi nghiệp Download tài liệu 3. Dự án khởi nghiệp dành cho sinh viên – Mô hình dự án xây dựng Đây là những đề tài khởi nghiệp đổi mới sáng tạo với mục tiêu ứng dụng công nghệ kỹ thuật và công nghệ thông tin vào quá trình nghiên cứu và phát triển sản phẩm, hướng đến tạo nên những giá trị góp phần cải thiện chất lượng sức khỏe và cuộc sống con người, phát triển du lịch, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm… Dự án khởi nghiệp dành cho sinh viên – Mô hình dự án xây dựng Download tài liệu 4. Dự án khởi nghiệp với thương mại điện tử Nếu một dự án khởi nghiệp được tạo ra với suy nghĩ của startup cho rằng “Tôi chưa từng vấp ngã, không sai lầm”. Thật ra, ai cũng có sai lầm, có lúc vấp ngã nhưng điều quan trọng là qua những thử thách ấy, ta rút ra được kinh nghiệm gì cho công việc sau này. Đây chính là tài liệu tóm tắt những sai lầm phổ biến nhất trong hoạt động sáng tạo dự án khởi nghiệp trong lĩnh vực thương mại điện tử. Dự án khởi nghiệp với thương mại điện tử Download tài liệu 5. Dự án khởi nghiệp dành cho sinh viên – Dịch vụ cho thuê sách, tìm kiếm tài liệu, mở phòng thư viện Đây là một dự án khởi nghiệp rất thú vị, hướng đến cung cấp dịch vụ cho thuê sách cả cũ lẫn mới với đa dạng các laoij sách báo, thậm chí là đồ dùng học tập, văn phòng phẩm. Dịch vụ còn hướng đến những đối tượng không phải sinh viên, đơn thuần là những người có nhu cầu tìm sách báo để tham khảo. Đây là dự án khởi nghiệp được đánh giá là có tính khả thi và dễ dàng thực hiện. Dự án khởi nghiệp dành cho sinh viên – Dịch vụ cho thuê sách, tìm kiếm tài liệu, mở phòng thư viện Download tài liệu 6. Khởi nghiệp và đổi mới dự án khởi nghiệp nhà hàng eat clean, healthy food taste of green Đây là một dự án khởi nghiệp do sinh viên thực hiện, hướng đến đối tượng là cộng đồng eat clean. Thậm chí, dự án này còn bao gồm kế hoạch kinh doanh như Những vấn đề cần giải quyết; kế hoạch để giải quyết vấn đề đó; thị trường và các đối thủ cạnh tranh; kế hoạch kiếm tiền; một dự báo tài chính,… Khởi nghiệp và đổi mới dự án khởi nghiệp nhà hàng eat clean, healthy food taste of green Download tài liệu 7. Dự án khởi nghiệp của sinh viên ngoại thương carjam Tiếp tục là một dự án khởi nghiệp do sinh viên thực hiện. Có thể nói, các bạn sinh viên chính là những đối tượng thích hợp nhất cho lĩnh vực khởi nghiệp. Các bạn sinh viên thường ưu tiên tập trung vào các lĩnh vực như thành phố thông minh, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, internet vạn vật, nông nghiệp thông minh, giáo dục thông minh, giao thông thông minh, thực tế ảo…. Dự án khởi nghiệp của sinh viên ngoại thương carjam Download tài liệu 8. Chia sẻ bài giảng Từ ý tưởng đến dự án khởi nghiệp Tài liệu này sẽ hướng dẫn bạn cách để thực hiện hóa ý tưởng dự án khởi nghiệp bằng cách trả lời các câu hỏi cũng như hướng dẫn bạn các bước thực hiện như Xác định ý tưởng, tìm kiếm thông tin, xin ý kiến và tư vấn, phân tích các trở lực, ý tưởng có thực tế, xác định các nội dung lớn của dự án,… Tài liệu này nhằm hệ thống các vấn đề bạn sẽ gặp phải khi viết một kịch bản để biến ý tưởng thành hiện thực. Chia sẻ bài giảng Từ ý tưởng đến dự án khởi nghiệp Download tài liệu 9. Dự án khởi nghiệp kinh doanh nhóm 5 Chúng ta đều biết rằng ý tưởng của dự án được hình thành từ quá trình quan sát và phát hiện ra những vấn đề gần gũi ở chung quanh. Từ đó mong muốn vận dụng dụng kiến thức bản thân đang nghiên cứu và học tập vào việc tạo ra những sản phẩm hữu ích cho xã hội. Và các bạn sinh viên thực hiện đề tài này có sự quan sát rất tốt cuộc sống xung quanh để sáng tạo ra một đề tài vô cùng thú vị, một dự án khởi nghiệp hoàn toàn khả thi và được đánh giá cao bởi giảng viên hướng dẫn. Dự án khởi nghiệp kinh doanh nhóm 5 Download tài liệu 10. Báo cáo nhập môn kinh doanh dự án khởi nghiệp Tài liệu tham khảo này được trình bày dưới dạng báo cáo thực nghiệm sau khi đã triển khai một dự án khởi nghiệp của nhóm sinh viên trường đại học Kinh Tế – đại học Đà Nẵng. Qua tài liệu này, qua sự trải nghiệm của các bạn sinh viên, chúng ta có thể tự trả lời cho mình câu hỏi khởi nghiệp là gì? Đó là khi bạn sẽ vừa làm chủ, lại vừa làm nhân viên. Vừa tham gia các hoạt động tìm kiếm, chăm sóc khách hàng lại phải tự quản lý mọi hoạt động của doanh nghiệp, công ty. Hãy cùng tìm hiểu xem cách xây dựng một kế hoạch khởi nghiệp là thế nào qua tài liệu này nhé. Báo cáo nhập môn kinh doanh dự án khởi nghiệp Download tài liệu 100+ Tài liệu dự án khởi nghiệp hay nhất Đọc thêm 10 Mẫu bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên được đánh giá cao Tham khảo 10 mẫu tóm tắt khóa luận hay và đầy đủ nội dung II. Những lưu ý khi tiến hành xây dựng một dự án khởi nghiệp 1. Đầu tiên, bạn phải biết rằng mọi dự án khởi nghiệp đều có 2 đặc điểm chung Đó là tính đột phá và tính tăng trưởng. Tính đột phá Thường thì mọi dự án khởi nghiệp thường tạo ra những điều chưa từng có trên thị trường hoặc những thứ thị trường đã có nhưng được cải thiện về chất lượng sao cho tốt hơn, thậm chí là vượt bậc. Đó có thể là một mô hình kinh doanh mới, một phân khúc sản xuất mới hay một công nghệ chưa từng thấy trên thế giới. Tính tăng trưởng Mọi công ty khởi nghiệp đều không đặt mục tiêu, giới hạn sự tăng trưởng cho mình. Họ thường hoạt động với khát vọng đạt được sự phát triển tốt nhất có thể. Nhưng có một lưu ý, bạn cần có điểm nhìn tốt về tương lai và đặt ra giới hạn phù hợp với từng thời điểm, bạn không thể bay cao bay xa với trí tưởng tượng của mình, tính tăng trưởng cần thực tế và có được bằng tính toán khoa học. 2. Các thành phần trong một dự án khởi nghiệp Bạn cần có cho mình một nhóm. Đội ngũ của bạn là vô cùng quan trọng, Yếu tố con người là tất cả trong một công ty. Hầu hết các nhà đầu tư tốt sẽ cho bạn biết rằng họ sẽ chọn một đội A với một ý tưởng kinh doanh B hơn là một ý tưởng kinh doanh A với một đội B. Có cho mình một ý tưởng có thể thực hiện. Điều quan trọng là phải có cho mình một ý tưởng thiết thực, không viển vông hay “có thể”; bạn có một kế hoạch rõ ràng để giải quyết nó; và bạn biết vấn đề bạn giải quyết nhắm đến đối tượng nào. Việc chứng tỏ được bạn xác định được thị trường mục tiêu là rất quan trọng. Hãy tiến hành sáng tạo sản phẩm. Đây là điểm rất nhiều doanh nhân gặp khó khăn. Trong phần này, bạn nên lưu ý về thời hạn tạo ra sản phẩm; những cột mốc quan trọng bạn sẽ hướng đến trong việc phân phối sản phẩm; cũng như bàn bạc về sản phẩm có thể áp dụng trong thị trường mục tiêu ra sao; những dịch vụ bạn có thể cung cấp như thế nào,… Thị trường được hướng đến. Bào gồm cả thông tin về những thách thức bạn sẽ phải đối mặt; các rào cản để gia nhập vào thị trường này, cho dù là về nguồn vốn hay kiến thức. Làm thế nào bạn cạnh tranh được với đối thủ? Ai sẽ là đối thủ của bạn; ai sẽ là công ty đối tác tiềm năng? Mô hình hoạt động của bạn. Việc hiểu được mô hình làm việc trước khi bạn bắt đầu thực hiện bất cứ thứ gì là điều cần thiết hơn cả. 3. Các bước cơ bản để thực hiện một dự án khởi nghiệp Bước 1 Truyền lửa Bước 2 Tự trang bị cho mình những kiến thức về khởi nghiệp Bước 3 Thành lập doanh nghiệp phân phối và sản xuất hàng hóa ra thị trường Bước 4 Phát triển mô hình doanh nghiệp trên toàn cầu Bước 5 Doanh nghiệp được niêm yết trên thị trường chứng khoán. Sau khi bạn đã xác định được những nội dung cơ bản cần phải có, cần phải thực hiện đối với một dự án khởi nghiệp, giờ là lúc chúng mình lưu ý một số điều sau đây để bạn tránh mắc phải những sai lầm dẫn đến dự án khởi nghiệp gặp khó khăn, thậm chí là thất bại. Kế hoạch của bạn chưa đủ tốt Nếu bạn chưa lên cho mình một bản miêu tả công việc chi tiết, một đề án tài chính đầy đủ và một bản phân tích yếu tố cạnh tranh thị trường thực tế thì dù dự của bạn có triển vọng đến đâu, các nhà đầu tư chắc chắn sẽ không tin tưởng vào một dự án khởi nghiệp viển vông, quá nhiều rủi ro và phần lớn nằm trong trí tưởng tượng của bạn Bạn chỉ tập trung cho những điều trước mắt Bạn muốn khởi nghiệp cần tìm đến những doanh nghiệp lớn để họ rót vốn vào cho việc khởi động dự án khởi nghiệp của bạn. Tất cả những doanh nghiệp đều có tham vọng to lớn, nếu bạn chỉ cho họ thấy được những thứ có thể đạt được trong 1 hay 2 năm tới, họ chắc chắn từ chối đầu tư cho bạn. Điều đó cũng có nghĩa, ý tưởng đơn thuần về một sản phẩm ứng dụng vào đời sống hàng ngày sẽ là không đủ để họ gật đầu và chi tiền cho dự án của bạn. Những gì bạn cần là trình bày cho họ thấy được tương lai bằng các chiến lược phát triển mang đầy tính thuyết phục của mình. Không chỉ thế, bạn cũng cần cho họ biết nếu họ đầu tư cho bạn, họ sẽ nhận được nhiều hơn số tiền họ bỏ ra rất nhiều, hãy chiếm lấy sự chú ý bằng một tương lai triển vọng, thực tế. Tài chính không vững vàng, số vốn kêu gọi quá ít Khi tiến hành kêu gọi vốn, nếu bạn không có tính toán tốt, việc bắt đầu với số vốn quá nhỏ không chỉ làm chậm sự phát triển của doanh nghiệp non trẻ. Nó còn có thể làm bạn thất bại hoàn toàn mọi chiến lược. Vì không có chiến lược nào vận hành mà miễn phí cả. Còn nếu số vốn kêu gọi quá lớn, sẽ không ai đầu tư cho bạn. Những Startup trẻ cần tính toán khoản tiền đầu tư đủ để trang trải cho thời gian doanh nghiệp trong những thời khắc tồi tệ nhất. Bạn có quá nhiều nguồn đầu tư Một số khởi nghiệp trẻ do quá lo lắng về tài chính nên chấp nhận nguồn tiền từ nhiều nhà đầu tư khác nhau. Điều này là rất không tốt, nếu bạn nghĩ càng nhiều nhà đầu tư càng tốt thì bạn còn quá thiếu kinh nghiệm và không thực tế trong suy nghĩ của mình. Việc có quá nhiều nguồn đầu tư, tức nhiều nhà đầu tư sẽ khiến bạn phải đáp ứng những mong đợi và quán xuyến những mối quan hệ hết sức đa dạng. Vậy thời gian đâu để bạn vận hành và quản lý dự án? Đó là chưa kể, các nhà đầu tư hoàn toàn có thể nảy sinh mâu thuẫn với nhau về quyền lợi, đặt bạn và thể vô cùng khó xử. Một bản cam kết hoàn hảo Có một điều mà các bạn cần lưu ý, mọi nhà đầu tư đều muốn nhận được lãi từ số tiền bỏ ra ban đầu, càng nhanh càng tốt và số tiền đó cần phải được sinh lời thêm. Một văn bản có tính chất pháp lý bao gồm tất cả các yếu tố sẽ bảo đảm quyền lợi cho bạn, giúp bạn an tâm tham gia cuộc chơi sòng phẳng, có lợi cho đôi bên. Nếu không bạn rất dễ dính bẫy doanh nghiệp. Hãy cẩn thận. Quản lý yếu kém, tài chính không ổn định Các quản lý nhân lực là vô cùng quan trọng, Từng có rất nhiều chủ doanh nghiệp trẻ đã dùng hết toàn bộ số tiền mà họ có một cách nhanh chóng. Đây là sai lầm cơ bản và gặp phải ở rất nhiều trường hợp. Các nhà kinh doanh trẻ, họ thường xuyên phung phí chi tiêu cho các khoản không cần thiết. Các ước đoán về doanh thu và lợi nhuận còn quá chủ quan, sơ sài, không chính xác. Điều này có thể dẫn tới việc cắt đứt nguồn tiền từ các nhà đầu tư. Vì đơn giản, họ không thấy bạn có thể giúp họ kiếm tiền và bạn đã hết giá trị để họ có thể đặt niềm tin, đặt tiền để đầu tư cho bạn. III. Những dự án khởi nghiệp thành công nhất thế giới Dự án khởi nghiệp là một thử thách, có rất nhiều dự án khởi nghiệp được đưa ra hằng năm chờ để được phê duyệt, quá nửa số đó đã thất bại, nửa còn lại cũng chỉ có số ít là đạt được thành công như họ mong đợi. Nhưng những thành công đó là có thật, nếu bạn có ý tưởng về một dự án khởi nghiệp, hãy nghiêm túc với nó vì biết đâu dự án khởi nghiệp của bạn sẽ đạt được thành công như những dự án khởi nghiệp mà chúng mình sắp giới thiệu dưới đây. Uber Uber là dịch vụ hoạt động trên điện thoại dưới dạng ứng dụng, giúp kết nối người cần di chuyển và tài xế. Có nguồn gốc từ Mỹ, ra đời năm 2009, hiện nay giá trị chính thức của Uber đã lên đến 68 tỷ USD. Uber cũng được xem là một trong những dự án “khởi nghiệp” thành công nhất mọi thời đại. Didi Chuxing Didi Chuxing cũng là đơn vị dẫn đầu cùng ứng dụng chia sẻ xe Grab, hiện giá trị của Didi Chuxing đang ở mức 50 tỷ USD. Didi Chuxing còn thu hút Apple “bơm” 1 tỷ USD vào để đầu tư, hãng giờ đã xứng đáng với tên gọi Uber của Trung Quốc. Xiaomi Với việc kinh doanh chính là sản xuất các thiết bị công nghệ như điện thoại, đồng hồ, máy tính bảng,… Nếu Xiaomi tiếp tục đà tăng trưởng hiện tại trong tương lai, thì con số giá trị 46 tỷ USD hiện tại sẽ còn tăng cao hơn nữa. Airbnb Airbnb là viết tắt của cụm từ “AirBed and Breakfast”, là một dịch vụ đặt phòng, căn hộ,… Đến nay, Airbnb đã phát triển và trở thành địa chỉ đặt phòng/căn hộ… ở hơn 190 quốc gia. Palantir Palantir thực chất là một nhà cung cấp phần mềm doanh nghiệp. Tổng số vốn năm 2013 là 450 triệu USD, còn hiện tại nó trị giá 20 tỷ USD. Lufax Lufax là một startup tài chính hoạt động trực tuyến trên internet, cung cấp dịch vụ cho vay P2P. Tính đến đầu năm 2015, đã có 10 triệu người dùng đăng ký dịch vụ của Lufax. Hiện công ty này đang được định giá 18,5 tỷ USD. China Internet Plus Holding Liên doanh thương mại điện tử giữa Meituan, một công ty chuyên về giảm giá dạng mua chung và Dianping, một startup trong lĩnh vực đánh giá nhà hàng qua mạng. Hiện công ty này đang được định giá ở mức tiềm năng bởi con số 18,5 tỷ USD cho một công ty mới ra đời năm 2015 thực sự mang lại không ít ấn tượng. Đọc thêm Tham khảo 10 bài báo cáo nghiên cứu khoa học đúng chuẩn Top 10 bài phân tích báo cáo tài chính đúng chuẩn nhất Chúng mình đã gửi đến các bạn 10 tài liệu về dự án khởi nghiệp hay nhất. Những tài liệu được chúng mình tổng hợp ngoài việc cung cấp cho các bạn kiến thức về dự án khởi nghiệp còn giúp các bạn hiểu được những cơ hội, rủi ro và thách thức khi tiến hành một dự án khởi nghiệp, những lưu ý để các bạn có thể tránh và những khả năng để các bạn có thể tận dụng. Chúc các bạn may mắn và thành công.
Khởi nghiệp là hành trình thật gặp nhiều thử thách, và theo thống kê có đến 90% các công ty khởi nghiệp gặp thất bại trong năm đầu tiên vì rất nhiều lý do, từ ý tưởng khởi nghiệp, sản phẩm, dịch vụ, marketing và nguồn vốn. Dù mục đích của bạn là kiếm thêm thu nhập với một dự án side hustle, kinh doanh một công ty nhỏ, hay tạo ra một startup kỳ lân trong 2022, thì mọi thứ đều bắt đầu bằng có được Ý tưởng khởi nghiệp. Một cách khách quan, những ý tưởng khởi nghiệp tốt nhất năm 2022 đều liên quan đến mô hình kinh doanh trực tuyến. Bạn hãy chọn một ý tưởng kinh doanh mà bản thân am hiểu và đam mê và xây dựng kế hoạch kinh doanh chi tiết. Trước khi bắt đầu kinh doanh, hãy xác định xem có nhu cầu về sản phẩm hoặc dịch vụ mà bạn muốn cung cấp hay không bằng phương pháp Đánh giá thị trường. Cùng Jenfi xem qua những ý tưởng khởi nghiệp tốt nhất 2022 trong bài viết sau đây. Gợi ý Nếu bạn đang sở hữu một doanh nghiệp và muốn huy động vốn để thúc đẩy doanh số, Jenfi có những chương trình huy động vốn dành riêng cho các doanh nghiệp Việt Nam, không thế chấp, lãi suất chỉ từ một năm. Ý tưởng khởi nghiệp là gì? Ý tưởng khởi nghiệp là lối suy nghĩ có mục đích là tạo ra một sản phẩm có giá trị vật chất hay tinh thần khác với những sản phẩm hiện có trên thị trường để tăng tính cạnh tranh, thu hút để kinh doanh và đem lại lợi nhuận. Ý tưởng khởi nghiệp cần chú trọng những yếu tố nào? Yếu tố mới mẻ Đây là yếu tố tiên quyết đến tính cạnh tranh cho sản phẩm của bạn. Tức là bạn phải tạo ra một sản phẩm mới dựa trên ý tưởng khởi nghiệp mới mà chưa ai từng làm. Sự mới mẻ sẽ thu hút sự chú ý của người tiêu dùng. Chính yếu tố này giúp cho ý tưởng, sản phẩm khởi nghiệp của bạn không bị lu mờ trước các ý tưởng khác. Yếu tố sáng tạo Để ý tưởng khởi nghiệp của bạn có thể cạnh tranh với các ý tưởng khác đòi hỏi không thể thiếu yếu tố sáng tạo. Cho dù là có cùng ý tưởng đi chăng nữa, nhưng nếu ý tưởng của bạn sáng tạo hơn, tiết kiệm hơn và phục vụ cho đa dạng khách hàng hơn chắc chắn sẽ khả thi hơn. Yếu tố vượt trội Vượt trội tức là nổi bật hơn hẳn. Ý tưởng khởi nghiệp của bạn phải có đặc điểm vượt trội nào đó về lộ trình, thời gian hoàn thành, nhân vật lực,... Nói chung là có ưu điểm mà nhiều ý tưởng khác chưa có hoặc không có thì ý tưởng khởi nghiệp của bạn sẽ được đánh giá cao. Yếu tố thực tế Yếu tố thực tế này rất được coi trọng khi lên ý tưởng khởi nghiệp. Cho dù ý tưởng của bạn sáng tạo, vượt trội, mới mẻ như thế nào nhưng lại xa rời thực tế, thiếu tính khả thi cũng sẽ không được ủng hộ và đánh giá cao. Vì thế các doanh nghiệp thường lấy ý tưởng từ nhu cầu người tiêu dùng. Thậm chí nhiều doanh nghiệp còn “đi tắt đón đầu” bằng cách khơi gợi nhu cầu người tiêu dùng để làm xuất hiện thêm nhiều ý tưởng kinh doanh khác. Lợi nhuận Nếu khởi nghiệp cần vốn thì thành quả khởi nghiệp chính là lợi nhuận. Ý tưởng khởi nghiệp của bạn dù chi tiết như thế nào, có thời gian thực hiện bao lâu thì lợi nhuận cũng là đích đến cuối cùng. Lợi nhuận là sự công nhận và cũng là sự hồi đáp xứng đáng cho công sức của người khởi nghiệp hay nhóm người khởi nghiệp. Họ sẽ lấy lợi nhuận làm động lực phát triển. Mặt khác có thể lấy lợi nhuận hiện tại để đầu tư cho các ý tưởng khởi nghiệp khả thi khác nữa. Top ý tưởng khởi nghiệp tốt nhất 2022 Viết blog Viết blog là một trong những ý tưởng khởi nghiệp có chi phí đầu tư thấp nhưng tiềm năng lợi nhuận rất cao. Blog, website là nơi mọi người tìm kiếm thông tin, lời khuyên, nguồn tài nguyên để hỗ trợ, phục vụ công việc hay đời sống của họ. Bằng việc cung cấp bài viết có giá trị, bạn có thể kiếm tiền qua bài viết của mình với nhiều cách như Đặt quảng cáo trên website Review sản phẩm và nhận hoa hồng Đặt link tiếp thị liên kết với công ty Bán khóa học trực tuyến Tư vấn trực tuyến một kỹ năng, kiến thức nào đó Nhận tài trợ Donation từ người đọc Để bắt đầu viết blog, bạn cần xác định chủ đề thị trường khe và đọc giả của mình phân khúc thị trường. Các thị trường khe phổ biến như kinh doanh, làm đẹp, đời sống, review sản phẩm, tài chính, tiền kỹ thuật số, giao dịch ngoại hối… được rất nhiều người chú ý trong thời gian này. Bạn cũng cần nắm được kiến thức về SEO, thiết kế, tiếp thị nội dung, viết bài, hiệu đính bài và cần biết cách sử dụng các công cụ tiếp thị trực tuyến như mạng xã hội, email… WordPress là nền tảng tạo blog phổ biến và đơn giản, dễ dùng để quản lý nội dung bài viết, hoặc bạn có thể dùng các nền tảng như Youtube, Tiktok, Facebook… sao cho phù hợp với mục đích và đọc giả của mình. Tiếp theo, bạn cần nghiên cứu từ khóa có thể dùng Google Keyword Planner, Semrush, Ahrefs để tạo kế hoạch nội dung và sản xuất nội dung đều đặn. Khi đạt được một mức độ người xem nhất định, bạn có thể bắt đầu kiếm tiền một cách thụ động đều đặn. Mua bán trên sàn thương mại Lazada, Shoppee, Tiki Kinh doanh thương mại trên các sàn như Lazada, Shoppee, Tiki có thể đem lại lợi nhuận khổng lồ cho chủ doanh nghiệp. Ví dụ như một doanh nghiệp kinh doanh phụ kiện trên Shopee đã kiếm được hơn 3 tỷ đồng một tháng Mua bán trên các sàn thương mại điện tử là một nghệ thuật Bạn cần tìm được nguồn hàng tốt, có thị trường đủ lớn, nhập hàng và bán lại trên mạng để kiếm lười. Bạn có thể tìm nguồn hàng bán sỉ từ Trung Quốc qua Alibaba, hoặc các nhà sản xuất OEM tại Việt Nam. Nếu ít vốn, bạn có thể thử chương trình Dropshipping nếu không muốn mua và trữ hàng hóa. Để bắt đầu, bạn chỉ cần đăng ký gian hàng trên sàn thương mại điện tử, tạo tài khoản ngân hàng. Tiếp theo, hãy nghiên cứu chọn một sản phẩm kinh doanh thương mại có tiềm năng theo 5 bước sau Bước 1 Khảo sát sản phẩm đó trên các sàn TMĐT Bước này giúp bạn nắm được tỷ lệ người kinh doanh sản phẩm này, mức giá trung bình, xem phản hồi và thị hiếu người dùng để xem sản phẩm này có thật sự có thị trường tiềm năng không. Bước 2 Kiểm tra chất lượng sản phẩm và nhà cung cấp Bạn có thể mua hàng mẫu từ NPP trong nước, các công ty OEM trong nước hoặc từ Alibaba… hãy nhớ xem và đánh giá kỹ chất lượng hàng mẫu. Tiếp theo, hãy xem kỹ điều kiện đặt hàng, MOQ, hình thức thanh toán…để chọn ít nhất 2 nhà cung cấp phù hợp. Bước 3 Đăng sản phẩm chuẩn SEO Tối ưu tất cả mọi thứ khi đăng sản phẩm từ Tên, Mô Tả, Hình Ảnh, Video, Từ Khóa, Thông tin bổ sung…. Để người dùng có thể mua ngay mà không phải rời khỏi trang bán hàng của bạn để tìm thêm nguồn thông tin. Bước 4 Kiểm tra độ nhạy của sản phẩm và mức độ chấp nhận của thị trường Thử chạy quảng cáo để xem phản ứng của thị trường để đánh giá mức độ thành công của sản phẩm, từ đó điều chỉnh, scale up để đem lại lợi nhuận theo cấp số nhân. Bước 5 Tái nhập hàng Dựa vào tốc độ bán ra và phản hồi của khách hàng để ra quyết định nhập số lượng lớn, vừa đủ hay ngưng không bán sản phẩm này nữa. Gợi ý Jenfi sẽ giúp bạn nguồn vốn cho các hoạt động tiếp thị trên các nền tảng quảng cáo, giúp bạn tối ưu hóa chiến dịch quảng cáo với tính năng Jenfi Insights, giúp bạn tập trung vào kinh doanh mà không cần lo về nguồn vốn. Công ty quảng cáo trực tuyến Một trong những thách thức khi kinh doanh trong 2022 của rất nhiều doanh nghiệp là tìm ra cách tiếp cận khách hàng tiềm năng thật hiệu quả trên các nền tảng kỹ thuật số. Nếu bạn có kỹ năng về sản xuất nội dung, chạy quảng cáo đa nền tảng Facebook ads, Google ads, Zalo ads, tạo các landing page, thử nghiệm A/B… thì xây dựng một công ty quảng cáo trực tuyến sẽ là một ý tưởng khởi nghiệp thật sự tiềm năng. Dĩ nhiên, việc xây dựng một công ty quảng cáo trực tuyến từ số không sẽ không hề dễ dàng. Bạn cần có chiến lược thích hợp Nếu bạn chưa có kinh nghiệm, bạn có thể Hợp tác với người khác Thuê người có kinh nghiệm Nếu bạn đã có kinh nghiệm, bạn cần Tìm cách để trở nên khác biệt trong ngành Đừng ngại khi làm việc với tư cách bên thứ ba white labeling Triển khai những gì bạn trình bày với khách Phục vụ khách hàng thật tận tâm Đào tạo trực tuyến Trong thời đại ngày nay, việc học online trở nên dễ dàng và cần thiết hơn bao giờ hết. Bạn có thể ngồi tại nhà hoặc cơ quan để học bất cứ kiến thức, lĩnh vực nào mà bạn yêu thích. Các khóa học phổ biến nhất hiện nay thuộc nhiều lĩnh vực như Ngôn ngữ Anh, Hàn, Nhật…, Marketing, Thiết Kế, Lập Trình, Đồ Họa, Website, Kinh Doanh, Kỹ năng Thuyết trình, tư duy, Yoga, tạo sản phẩm thủ công Nến thơm. Bạn có thể dạy mở lớp dạy online trên Google Meet, Zoom, hoặc tạo các khóa học được ghi hình sẵn và bán trên các nền tảng như Unica, VioEdu tiếng Việt, Udemy, Coursera tiếng Anh. Dịch vụ dọn dẹp Một trong những vấn đề thường gặp của những gia đình làm việc 9-5 là không có thời gian cũng như sức lực để dọn dẹp nhà cửa. Mặc dù họ có thể thuê người giúp việc theo giờ nhưng lại gặp khó khăn vì nhiều vấn đề như an toàn, chất lượng dịch vụ. Ý tưởng khởi nghiệp trong lĩnh vực dọn dẹp sắp xếp nhà cửa có thể giúp bạn có được nguồn khách hàng ngay vì thị trường có nhu cầu cao trong khi ít đơn vị cung cấp dịch vụ này. Để bắt đầu kinh doanh dịch vụ dọn dẹp, bạn cần đăng ký một công ty TNHH để có tư cách pháp nhân và tạo sự uy tín, tạo các SOPs Quy trình làm việc, thuê nhân sự và hướng dẫn họ, tiếp theo là tìm kiếm khách hàng ở nơi bạn đang sinh sống. Hãy chụp lại quá trình làm việc tại nhà khách và dùng chúng như các bằng chứng để tạo quảng cáo, cho khách hàng thấy được chất lượng dịch vụ của bạn như thế nào. Kinh doanh dịch vụ giặt quần áo, làm sạch giày dép Vấn đề khi sinh sống ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh… là mọi người quá bận rộn để có thời gian tự giặt giũ. Đây là một thị trường kinh doanh khá thực tế vì hầu như người trẻ rất ít thời gian hoặc không thích giặt quần áo. Để bắt đầu kinh doanh dịch vụ giặt giũ, hãy nghiên cứu vị trí đông đúc khu trọ, khu sinh viên hoặc người đi làm, tìm kiếm mua máy giặt công suất lớn với giá thấp, học các kiến thức căn bản về bột giặt, nước xả, nước tẩy… để giặt sạch thơm quần áo mà không làm hỏng chất liệu của khách hàng. Để quảng cáo dịch vụ giặt quần áo, bạn có thể tạo tờ rơi và phát cho các khu trọ lân cận và cung cấp dịch vụ tốt hơn so với những tiệm giặt là khác trong khu vực ví dụ giao tận nơi, chiết khấu khi giới thiệu khách… Làm đồ handmade Nếu bạn là một người khéo tay, lại có máu kinh doanh và không ngại cần mẫn, tỉ mỉ để làm ra những món đồ handmade xinh xắn thì thời của bạn đã đến rồi đấy. Những món đồ handmade nhỏ gọn theo đủ phong cách từ đơn giản, hiện đại cho đến hoài cổ như túi thơm, giỏ xách, ví tiền, thậm chí là giày dép,... không cần bạn chuẩn bị số vốn quá lớn. Chỉ tầm 20 - 30 triệu thì bạn đã có thể khởi nghiệp làm đồ handmade. Hơn nữa, những món đồ bắt mắt này rất dễ bán ra vì chúng có giá thành thường không cao. Vốn không cao mà lãi không hề thấp. Yêu cầu ở đây bạn chỉ cần tỉ mỉ bỏ ra thời gian, công sức là được. Kinh doanh tự do tại nhà Những ý tưởng kinh doanh tự do tại nhà phổ biến nhất hiện nay là mở shop thời trang, tiệm nails và làm tóc, tiệm spa, dịch vụ trông trẻ, tiệm bán tạp hóa nhỏ lẻ,... Bạn có sẵn mặt bằng hoặc vị trí để kinh doanh, không tốn tiền thuê nhà. Đồng thời có bạn bè hoặc người thân trong gia đình giúp đỡ. Vào những tháng đầu mới bắt đầu kinh doanh, doanh thu chưa được cao cũng sẽ không làm bạn cảm thấy áp lực. Đến khi việc kinh doanh đi vào ổn định thì bạn đã có thể thu về lợi nhuận ổn định tùy theo chất lượng sản phẩm của bạn. Bán đồ ăn thức uống bình dân Nói đến món ăn đường phố Việt Nam, chúng ta không thể phủ nhận sự đa dạng của chúng. Nhất là những món ăn thức uống bình dân vẫn mang hương vị đặc trưng mà còn có giá cả rất rẻ so với các món được bán trong hàng quán cao cấp. Bạn hãy khởi nghiệp kinh doanh đồ ăn bằng những món ăn quen thuộc đối với người Việt như bún, phở, bánh mì, xôi vào buổi sáng. Ngoài ra bán cháo dinh dưỡng cũng đang là xu hướng mới cho các gia đình muốn kinh doanh đồ ăn bình dân. Nếu bạn tìm được mặt bằng tốt ở nơi khá đông đúc, nhộn nhịp, có thể bán trà đá vỉa hè. Ngành nghề này không cần vốn nhiều, tầm 2-3 triệu thì bạn đã có thể khởi nghiệp được. Bán đồ đặc sản Mỗi tỉnh thành trên khắp mọi miền đất nước đều có những đặc sản riêng của mình. Vì thế kinh doanh đặc sản cũng là một ý tưởng cực kỳ thông minh và nhạy bán. Bạn có thể dễ dàng tìm kiếm nguồn hàng chất lượng tại nơi mình sinh ra, giúp chúng được nhiều người biết đến hơn. Đã gọi là đặc sản tất nhiên phải quý, độc đáo. Điển hình như ba khía múi Cà Mau, kẹo dừa Bến Tre, bánh pía Sóc Trăng, nem chua Thanh Hóa,... Nhờ tính độc đáo này mà bạn rất dễ bán hàng. Khách hàng không những mua để ăn mà còn để biếu cho người thân, bạn bè, cấp trên nữa đấy! Làm nghề tự do Đây là nhóm ý tưởng khởi nghiệp nổi trội hiện nay của các bạn trẻ. Đó là các nghề viết content tự do, chụp thuê ảnh sản phẩm, lập trình ứng dụng, thiết kế website,... Nhóm những công việc này không đòi hỏi về vốn nhiều như các nhóm nghề trên. Tuy nhiên đòi hỏi bạn thật sự đầu tư chất xám và nghiêm túc với công việc mình làm. Có như thế bạn không cần đi đâu xa hoặc đến cơ quan mỗi ngày vẫn có thể đảm bảo thu nhập đáng kể, ổn định mỗi tháng cho mình. Livestream bán hàng online tại nhà Những mẹ bỉm sữa, sinh viên hay nhân viên văn phòng đều dễ dàng khởi nghiệp với ngành bán hàng online. Đây chắc hẳn không còn là ngành nghề lạ lẫm gì. Quan trọng nhất bạn cần tìm được sản phẩm độc đáo về chất lượng hoặc giá cả để nâng cao sức cạnh tranh. Bán hàng online là ý tưởng giúp bạn khởi nghiệp làm chủ tại nhà. Bạn không cần đầu tư, nâng cấp mặt bằng hoặc phải trưng bày sản phẩm. Chỉ cần chuẩn bị thật tốt một góc nhỏ để chụp hình mặt hàng bạn bán. Bên cạnh đó chăm chỉ, chu đáo, tận tâm trả lời tin nhắn, cuộc gọi từ khách hàng đảm bảo bạn sẽ bán hàng dễ dàng. Những lưu ý để có ý tưởng khởi nghiệp tốt Như đã nói ở trên, ý tưởng khởi nghiệp cần đảm bảo các yếu tố mới mẻ, sáng tạo, vượt trội, thực tế và lợi nhuận. Nhưng để có ý tưởng khởi nghiệp tốt như vậy, các bạn đừng quên một vài lưu ý quan trọng sau Ý tưởng khởi nghiệp càng cụ thể, bài bản, bạn càng có thể kiểm soát rủi ro tốt; Trước khi lên kế hoạch cho ý tưởng khởi nghiệp của mình, bạn nên tham khảo ý kiến của những người vừa dày dặn kinh nghiệm vừa thân thiết, đáng tin tưởng; Ý tưởng khởi nghiệp phải thực tế, bạn cần suy xét đến vốn, nhân lực, vật lực, đối thủ đang thực hiện cùng ý tưởng,... Không nên nóng vội kẻo làm mất đi lợi thế cạnh tranh của chính mình. Từ đó dẫn đến tình trạng bị đối thủ chèn ép. Thậm chí chưa thực hiện được ⅓ ý tưởng thì bạn đã bị hết vốn hoặc không còn ai thực hiện cùng. Trên đây là những chia sẻ thực tế của Jenfi về các ý tưởng khởi nghiệp tốt nhất 2022. Hãy chuẩn bị chu đáo và chi tiết để ý tưởng của bạn được đưa vào thực tế sớm nhất. Chúc các bạn thành công và đừng quên theo dõi những chia sẻ mới nhất từ chúng tôi nhé! Cùng Jenfi học Kinh Doanh 101 trong chuỗi bài viết về khởi nghiệp Startup Việt Nam qua chuỗi bài viết sau Đánh Giá Thị Trường – Hướng Dẫn Từng Bước Để Bạn Tìm Được Thị Trường Mục Tiêu Tư Duy Thiết Kế - Cách Xác Định Chính Xác Nhu Cầu Người Dùng Và Chinh Phục Họ Cần nguồn vốn kinh doanh? Bạn đang tìm nguồn vốn để mở rộng kinh doanh? Khám phá các gói huy động vốn tăng trưởng từ Jenfi dành cho doanh nghiệp SME, công ty TNHH, công ty liên doanh tại Việt Nam để nhận ngay dòng tiền mặt lên đến 10 tỷ VND trong chỉ 5 ngày làm việc.
Bạn có thể tải về tập tin thích hợp cho bạn tại các liên kết dưới luận về vấn đề khởi nghiệp được VnDoc sưu tầm và giới thiệu tới các em học sinh cùng quý phụ huynh tham khảo chuẩn bị tốt cho bài kiểm tra sắp thêm các thông tin về Nghị luận về vấn đề khởi nghiệp
Mọi khó khăn mà chúng ta phải đối mặt đã từng được vượt qua bởi một người mà chúng ta tôn trọng, người sẵn sàng cho chúng ta biết nó được thực hiện như thế nào. Một câu nói đúng vào đúng thời điểm thường có thể mang lại ý nghĩa và nhận thức sâu sắc hơn chính vào lúc bạn cần đến nó nhất. Xem thêm 5 châm ngôn để khởi nghiệp thành công Một câu nói hay có thể cung cấp cho bạn lăng kính để thông qua đó nhìn thấu một tình huống khó khăn hoặc mang lại một tia sáng trong thời khắc tối tăm. Đây là bộ sưu tập những câu nói đầy cảm hứng từ những người có khả năng quan sát và trực giác giúp khích lệ tinh thần cho tất cả chúng ta. Xem thêm Danh ngôn dành cho các chặng đường khởi nghiệp 1 “Động lực lớn nhất của tôi? Là tiếp tục thử thách bản thân tôi. Tôi thấy cuộc đời gần giống như một nền giáo dục đại học lâu dài mà tôi chưa bao giờ có – mỗi ngày tôi đều học một thứ gì đó mới mẻ.” – Richard Branson – 2 “Thiên tài là 1 phần trăm cảm hứng, và 99 phần trăm mồ hôi.” – Thomas Edison – 3 “Mỗi khi bạn tuyên bố những gì bạn muốn hoặc tin tưởng, bạn là người đầu tiên nghe thấy nó. Đó là thông điệp cho cả bạn và người khác về những gì bạn nghĩ là có thể xảy ra. Đừng tự tạo trần chắn cho chính mình.” – Oprah Winfrey – 4 “Sợ hãi là căn bệnh. Sự hối hả là thuốc giải độc.” – Travis Kalanick – 5 “Nếu bạn được mời lên tàu vũ trụ, đừng hỏi ghế nào! Cứ lên đi.” – Sheryl Sandberg – 6 “Thời điểm, sự kiên trì và mười năm cố gắng cuối cùng sẽ khiến bạn trông giống như người thành công chỉ sau một đêm.” – Biz Stone – 7 “Ăn mừng thành công thì tốt thôi nhưng điều quan trọng hơn là phải chú ý đến những bài học về sự thất bại.” – Bill Gates – 8 “Mơ, sau hết, là một dạng lên kế hoạch.” – Gloria Steinem – 9 “Câu hỏi mà tôi tự hỏi mình gần như mỗi ngày là, “Tôi có đang làm việc quan trọng nhất tôi có thể làm không?” – Mark Zuckerberg – 10 “Bạn nắm giữ cuộc đời mình trong chính đôi tay của mình, và điều gì xảy ra? Thật khủng khiếp, không có ai để bạn trách cứ.” – Erica Jong – 11 “Một người không bao giờ phạm sai lầm thì không bao giờ thử bất cứ điều gì mới.” – Albert Einstein – 12 “Thành công là trải qua thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi lòng nhiệt huyết.” – Winston Churchill – 13 “Cách để khởi đầu là dừng nói và bắt đầu làm.” – Walt Disney – 14 “Khi một cánh cửa hạnh phúc đóng lại, một cánh cửa khác sẽ mở ra, nhưng thường thì chúng ta nhìn rất lâu vào cánh cửa đã đóng mà không thấy được cánh cửa vừa mở ra cho chúng ta.” – Helen Keller – 15 “Thành công không phải là chìa khóa của hạnh phúc. Hạnh phúc là chìa khóa để thành công. Nếu bạn yêu thích những gì bạn đang làm, bạn sẽ thành công.” – Albert Schweitzer – 16 “Những người thành công và không thành công không khác nhau nhiều về năng lực của họ. Họ khác nhau về mong muốn để đạt được tiềm năng của mình.” – John Maxwell – 17 “Thật khó để làm xuất sắc bất cứ việc gì mà không nghĩ về nó khi đang tắm.” – Paul Graham – 18 “Mỗi cú đánh ăn điểm đưa tôi tiến gần hơn đến cú đánh mạnh kế tiếp.” – Babe Ruth – 19 “Không có tham vọng, người ta không thể khởi tạo được điều gì. Không làm việc thì sẽ không gặt hái được gì. Giải thưởng sẽ không tự gửi đến bạn. Bạn cần phải chiến thắng nó.” – Ralph Waldo Emerson – 20 “Xây dựng ước mơ của riêng bạn, hoặc ai đó sẽ thuê bạn xây dựng ước mơ của họ.” – Farrah Gray – 21 “Nếu tôi hỏi mọi người rằng họ muốn gì, chắc hẳn họ đã nói muốn ngựa phải chạy nhanh hơn.” – Henry Ford – 22 “Một doanh nhân khởi nghiệp về cơ bản là một người giỏi mường tượng và giỏi hiện thực hóa. Anh ta có thể mường tượng điều gì đó, và khi hình dung về nó, anh ta có thể thấy chính xác cách nó xảy ra.” – Robert L. Schwartz – 23 “Tôi tin rằng khoảng một nửa nguyên do tách biệt các doanh nhân thành công khỏi những người không thành công chính là sự kiên trì.” – Steve Jobs – 24 “Tiền là gì? Một người đàn ông là người thành công nếu anh ta thức dậy vào buổi sáng, đi ngủ vào buổi tối và trong khoảng thời gian từ sáng đến tối có thể làm điều mà anh ta muốn.” – Bob Dylan – 25 “Giáo dục chính thống sẽ giúp bạn kiếm sống; tự giáo dục sẽ giúp bạn tạo ra một gia tài.” – Jim Rohn –
bài văn về khởi nghiệp