Phật tử tại gia nên trì tụng kinh gì? đa phần Phật tử hiện đang trnạp năng lượng trở với câu hỏi " Hằng ngày, ở trong nhà buộc phải tụng tởm gì?". Đúng là ghê vào đạo Phật có rất nhiều với bạn Phật tử ko kể bài toán thực hiện hợp tam quy, ngũ giới thì
Phát nguyện trì, tụng Chú Đại Bi 7 biến vào mỗi tối trước giờ ngủ, giờ nghỉ trưa, lúc đi hoặc ngồi xe…. Trì chú, niệm Phật cũng đều mục đích như nhau để tam nghiệp hằng thanh tịnh. Khi tâm mình thanh tịnh tức tâm bình, tâm bình tạo ra thế giới bình "tướng tự
Tại khoản 2 Điều 2 Nghị định 08/2020/NĐ-CP quy định về tống đạt như sau: 2. Tống đạt là việc thông báo, giao nhận giấy tờ, hồ sơ, tài liệu do Thừa phát lại thực hiện theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan; Trong tố tụng dân sự, theo Điều 173
Om mani padme hum là gì? Om mani padme hum là một câu thần chú cổ bằng tiếng Phạn, có ý nghĩa sâu sắc trong Phật giáo. Tìm hiểu về nguồn gốc, ý nghĩa và sức mạnh khi sử dụng đúng câu thần chú này qua nội dung sau! Trì tụng thường xuyên câu thần chú này sẽ giúp xua đuổi
Trước khi trì chú cũng phải đánh răng, súc miệng sạch sẽ, nếu trước đó có đi đại tiện, tiểu tiện thì phải rửa tay sạch sẽ trước khi trì tụng. Xem thêm: Nghi thức và bài niệm phật hàng ngày dành cho quý Phật tử Hành giả nên có một phòng riêng yên tĩnh thờ Bồ Tát ngàn tay, ngàn mắt. Nếu không có thì có thể sử dụng bất cứ tượng Bồ Tát Quán Thế Âm nào.
Mantras là những cụm từ cầu nguyện được chọn lọc để dâng lên các vị thần và nữ thần để nhận được những phước lành mà chúng ta cần để có động lực trong cuộc sống. Vì vậy, đừng lo lắng, tất cả các câu thần chú đều có ý nghĩa tích cực. Tụng hoặc nghe Mantra đều có lợi nhưng Tụng Mantra có tác dụng mạnh hơn là lắng nghe.
TỤNG KINH - TRÌ CHÚ - NIỆM PHẬT 1. Định Nghĩa - Tụng kinh: là đọc thành tiếng và có âm điệu hoặc đọc thầm những lời Phật dạy một cách thành kính. - Trì 2. Ý nghĩa tụng kinh, trì chú, niệm Phật a. Ý nghĩa tụng kinh - Giúp cho chúng ta nhớ những lời Phật dạy để thực hành - 3. Phương pháp tụng
Không có lý do gì đặc biệt cả, chỉ là chúng tôi không muốn có và suy nghĩ đó sẽ không thay đổi". Sự nghiệp bị chèn ép, danh tiếng xuống dốc và không có con nhưng Lữ Tụng Hiền không bi quan. Ông cùng vợ thường xuyên du lịch, theo đuổi những thú vui như đua moto, lướt sóng.
Vay Tiền Trả Góp Theo Tháng Chỉ Cần Cmnd Hỗ Trợ Nợ Xấu. Kinh Phổ Môn là gì mà vào những dịp khánh hỷ, cầu an thường được các gia đình đi cầu nguyện, tụng kinh mong ước cho mưa thuận gió hoà. Ý nghĩa của loại kinh này ra sao? Nội dung như thế nào?Hãy tham khảo bài viết sau để hiểu hơn về kinh Phổ Môn. Danh Mục Nội Dung1. Kinh Phổ Môn là gì?2. Ý nghĩa của kinh Phổ Môn3. Nội dung chính của kinh Phổ Môn4. Khoá lễ tụng kinh Phổ Môn 5. Khi nào nên tụng kinh Phổ Môn?6. Cách trì tụng kinh Phổ Môn1. Tụng kinh Phổ Môn nên làm ở chùa hay ở nhà?2. Chuẩn bị gì trước khi tụng kinh Phổ Môn? 3. Những lưu ý khi tụng kinh Phổ Môn 1. Kinh Phổ Môn là gì? Là bài kinh được nói về hạnh nguyện độ sanh của Bồ Tát Quan Thế Âm. Loại kinh này được gọi với tên thông thường là kinh quan Thế Âm, Phẩm Phổ Môn. Qua bài kinh để giới thiệu “quán chiếu” cuộc đời nhằm cho chúng sinh giác ngộ, giải thoát bằng phương pháp tu tập phổ biến. Bản kinh Phổ có nguyên tắc viết bằng chữ Sanskrit. Hiện nay được dịch theo 3 bản chữ Hán như sau Bản đầu tiên của ngài Trúc Pháp Hộ có tựa đề”Quan Thế Âm Bồ tát”. Đây là tác phẩm thứ 23 nằm trong Chánh Pháp Hoa Kinh. Bản thứ 2 của ngài Cưu ma la thập dịch có tựa đề “Quan Thế Âm Bồ tát Phổ Môn Phẩm”. Tác phẩm thứ 25 trong kinh Hoa Sen Chánh Pháp. Bản thức 3 được dịch bởi ngài Xà na quật đa và Đạt ma cấp đa dịch có tựa đề “Quan Thế Âm bồ tát Phổ Môn Phẩm. Giống với tên bản dịch của ngài Cưu ma la thập. Bản nằm trong phẩm thứ 24 của Thiêm Phẩm Pháp Hoa Kinh. Sách kinh Phổ Môn Cả ba bản dịch chỉ có bản thứ 3 là đầy đủ 2 phần văn xuôi và thi hoá phần văn xuôi. Khi bản dịch thứ 3 ra đời được người dân sử dụng đến nay. Bản dịch tiếng Việt được lấy từ bản chữ Hán của Cưu ma la thập, được giữ nguyên phần thi hoá văn xuôi. Bởi nội dung có trong phần thi hoá văn xuôi không có trong phần văn. Ngược lại, nội dung trong phần văn sẽ không có trong phần thi hoá văn xuôi. *** Tìm hiểu thêm Nghi thức khai quang điểm nhãn là gì ? Ý nghĩa của khai quang điểm nhãn 2. Ý nghĩa của kinh Phổ Môn Bài kinh Phổ Môn có tính ẩn dụ cao. Thế nên để hiểu được ý nghĩa của bài kinh cần nghiên cứu sâu sắc. Bởi đọc kinh không chỉ nhìn chữ để tụng kinh mà quan trọng là chúng ta phải hiểu được ý nghĩa bên trong. Tụng kinh không đồng nghĩa với điều ước đạt được. Bồ tát không phải là thần linh có thể cứu nguy. Do đó mà mục tiêu của việc tụng kinh không phải để cầu xin, van xin sự giúp đỡ. Cốt lõi của việc tụng kinh là cách chúng ta tu tập quán chiếu cuộc đời. Phương pháp này giúp con người khởi duyên để tự giải thoát khỏi đau khổ. Bản thân sẽ thấy nhẹ nhàng hơn, thanh tịnh hơn. Ngoài ra, ý nghĩa của kinh Phổ Môn là sự bao dung, tình thương mà Bồ tát ban cho chúng ta thông qua cách thức độ sinh. Mỗi người tu tập sẽ khác nhau, dựa vào căn cơ khác nhau. Và ứng thân với các vị Bồ tát khác nhau. Kinh Phổ Môn là phương pháp giúp con người thoát khỏi bề khổ Không có vị Bồ Tát nào cứu giúp chúng ta cầu gì, ước gì sẽ được đó. Bởi luật nhân quả giống nghiệp báo. Bài kinh sẽ chỉ cho chúng ta hiểu trong cuộc đời mỗi con người có 5 loại âm thanh hiện hữu. Đó là Diệu Âm, Phạm Âm, Quán Thế Âm, Hải Triều âm và Siêu việt thế gian Âm. Đổi lại sẽ có 5 pháp quán chiều Chân Quán, Bi Quán, Từ Quán, Thanh tịnh quán và Quảng đại trí tuệ quán. Dựa vào đó mà chúng ta có thể giúp bản thân tự giải thoát chính mình ra khỏi bể khổ. Tu tập, tự cứu mình và vị tha nhân khỏi bất hạnh. 3. Nội dung chính của kinh Phổ Môn Trong bài kinh Phẩm Phổ Môn sẽ có 3 nội dung chính như sau Thần lực trì danh Quan Âm. Cứu thế độ sinh qua 33 ứng thân. Phương pháp ngũ âm, ngũ quán. Nội dung của kinh Phổ Môn đầu tiên là giới thiệu sự tương giao trong nhân quả. Giữa Quan thế Âm bồ tát với chúng sinh. Quan Thế Âm là người ban niềm vui cho con người. Là điểm tựa, nuôi dưỡng trí tuệ, tu thân tích đức, nỗ lực trở thành người thánh đức. 4. Khoá lễ tụng kinh Phổ Môn Khoá tụng kinh Phổ Môn được chia thành 3 phần bao gồm Phần đầu tiên Nghi thức dẫn nhập có 5 tiết mục là nguyện hương, tán hương, đảnh lễ ba ngôi báu, phát nguyện trì kinh, tán dương giáo pháp. Phần 2 Chính kinh. Giới thiệu hạnh nguyện độ sanh của Bồ Tát Quan Thế Âm. Phần 3 Sám nguyện và hồi hướng. Ban đều sẽ học bài Bát Nhã Tâm Kinh. Bài học giúp người tụng kinh độc diệt từ tất cả các đau khổ trong cuộc đời. Phương pháp được áp dụng ở phần này là quán chiếu năm yếu tố để hình thành con người. Khi kể đến 12 lời nguyện Bồ Tát Quan Thế Âm giúp người học tu học hiểu về bản nguyện cứu thế độ sinh. *** Tìm hiểu thêm Linh thú cát tường là gì? Cách chọn linh thú phù hợp theo tuổi và mệnh 5. Khi nào nên tụng kinh Phổ Môn? Người ta thường đi tụng kinh Phổ Môn vào các dịp chủ yếu như Cầu an. Cầu quốc thái dân an. Cầu khỏi bệnh. Cầu tai qua nạn khỏi. Cầu gia đạo bình an. Cầu mưa thuận gió hoà. Hoặc có thể tụng kinh Phổ Môn vào các dịp khác như Khánh hỷ. Lễ khai trường. Lễ khởi công. Lễ an vị Phật. Lễ mừng thọ, chúc thọ. Lễ đáo tuế. Lễ sinh nhật. Đây đều là những dịp đặc biệt trong đời sống con người. Có vai trò quan trọng giúp đời sống đi lên, phát triển hơn. 6. Cách trì tụng kinh Phổ Môn Bồ Tát Quan Thế Âm khởi đại nguyện cứu khổ cứu nạn cho chúng sinh. Nên khi gặp khổ nạn con người thường xưng niệm danh hiệu ngài nhằm cầu mong sự an ổn. Sự tương giao giữa 2 tâm thức giúp chúng sinh đạt được sự an ổn. Để tụng kinh Phổ Môn đúng cách và hiệu quả cần lưu ý những điều sau 1. Tụng kinh Phổ Môn nên làm ở chùa hay ở nhà? Nếu như gia đình bạn có bàn thờ Phật ở nhà có thể thực hiện việc cầu an tại gia là tốt nhất. Trường hợp nơi ở chật hẹp, ồn ào, điều kiện không cho phép có thể tiến hành cầu an ở chùa. Dù là cầu an ở nhà hay ở chùa đều phải chuẩn bị thật chu đáo, trang nghiêm. Những vật cần thiết trong lễ cầu an phải có như hoa quả, hương đèn,… Chúng ta dâng cúng những gì, tốt hay xấu, nhiều hay ít,.. không quan trọng. Mà điều cốt yếu là mọi thứ từ chí thành, nghiêm cẩn trong khả năng cho phép. Bản Kinh Phổ Môn bán chạy trên thị trường 2. Chuẩn bị gì trước khi tụng kinh Phổ Môn? Để đạt hiệu quả thành công, trước khi tụng kinh Phổ Môn cần lau dọn, bày bàn thờ Phật trang nghiêm, sạch sẽ. Tốt nhất nên tự mình làm không sai bảo người khác. Trừ trường hợp những người tham gia chuẩn bị có tâm nguyện cầu an, là con cái trong gia đình. Sau đó, gia chủ đứng trước bàn thờ Phật chí thành lễ bái. Lúc này nghi thức cầu an chính thức bắt đầu. Tụng phẩm kinh Phổ Môn được trình bày rõ ràng, nghi thức trang nghiêm. 3. Những lưu ý khi tụng kinh Phổ Môn Để buổi tụng kinh Phổ Môn diễn ra thành công, đạt hiệu quả cao thì gia chủ cần lưu ý các điều sau Có thể tụng kinh theo bản dịch tiếng Việt để tạo hiệu quả tốt, hiểu được ý nghĩa của từng câu kinh. Cần tập trung hết sức, suy ngẫm về ý nghĩa của các câu kinh, tiếng kệ. Điều này giúp chúng ta hòa quyện với không khí trang nghiêm buổi tụng kinh. Từ đó thấm đẫm được ý nghĩa các câu kinh trong tâm trí. Chuẩn bị mọi thứ thật đầy đủ, cẩn thận, ăn mặc trang nghiêm. *** Tìm hiểu thêm Ấn Thiền, ấn Chuyển Pháp Luân là gì? Đặc điểm của Ấn Thiền, ấn Chuyển Pháp Luân Với các lưu ý trên giúp buổi tụng kinh Phổ Môn diễn ra theo đúng mong muốn, đạt hiệu quả cao. Qua những chia sẻ trên bạn hiểu được kinh Phổ Môn là gì? Đồng thời biết được ý nghĩa và nội dung của bài kinh này. Từ đó vận dụng một cách khoa học.
Trì tụng thần chú Chuẩn ề có rất nhiều lợi ích giúp tai qua nạn khỏi tật, bệnh tiêu trừ, tam nghiệp thanh tịnh, trừ ma chướng… Thần chú Phật Mẫu Chuẩn Đề là một thần chú nổi tiếng trong Phật giáo. Thần chú có thể giúp khai mở trí tuệ Bát Nhã và giúp người niệm gặp nhiều thuận lợi trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Chuẩn Đề, Phạn ngữ là Cundì, Cunïdïhi चुन्दी, dịch nghĩa là Năng hành, Thành thực hay Thanh tịnh. Năng hành nghĩa là Bồ tát có thệ nguyện rộng lớn, trí tuệ sâu xa, đầy đủ mọi năng lực để làm bất cứ việc gì cũng đều đem đến sự lợi ích cho chúng sinh. Thành thực có nghĩa Bồ tát có công năng vi diệu, từ nơi pháp Không tưởng quán ra pháp Giả, khiến chứng đắc cảnh giới Niết bàn, bạt trừ mọi vọng huyễn sinh tử. Thanh tịnh nghĩa là Bồ tát đã chứng đắc được bản tâm, khéo an trụ trong tự tánh thanh tịnh. Chuẩn Đề gọi đủ là Thất Câu Chi Phật Mẫu Chuẩn Đề. Theo “Nhị khóa hiệp giải” thì Câu chi nghĩa là trăm ức, Thất câu chi là bảy trăm ức, Phật mẫu là mẹ sinh ra chư Phật. Danh hiệu Thất Câu Chi Phật Mẫu Chuẩn Đề có nghĩa thời quá khứ đã có bảy trăm ức Bồ tát do tu pháp môn Chuẩn Đề tam muội mà chứng quả Vô thượng Bồ đề và chúng sinh đời sau muốn thành tựu Phật quả cũng phải nương theo pháp môn này để tu hành. Tin liên quan Sự linh ứng của Thần Chú Chuẩn Đề Phật Mẫu Nội dung và ý nghĩa Chuẩn Đề Thần Chú Những lợi ích khi trì tụng niệm Thần chú Phật Mẫu Chuẩn Đề Chú Chuẩn Đề Phật Mẫu Chuẩn Đề thần chú tiếng Phạn và Việt Hình tướng Bồ tát Chuẩn Đề Nay xin tuyên dương bửu tượng của đức Chuẩn Để ra đây, đặng cho những người mộ đạo chiêm ngưỡng và lễ bái, thì được phước vô lượng vô biên. Bửu tượng của ngài có nhiều vẻ quang minh tốt đẹp, đều chiếu diệu cả mình, còn thân tướng thì sắc vàng mà có lằn điển quang trắng. Ngài chỉ ngồi kiết già, trên thì đắp y, còn dưới thì mặc xiêm đều trọn một sắc trắng mà có bông, lại có đeo chuỗi anh lạc và trên ngực có hiện ra một chữ vạn. Còn hai cườm tay có đeo hai chiếc bằng ốc trắng, hai bên cánh tay trỏ có xuyến thất châu coi rất xinh lịch, lại hai trái tai có được ngọc bửu đương và trong các ngón tay đều có đeo vòng nhỏ. Trên đầu thì đội mão hoa quang, trên mão ấy có hóa hiện ra 5 vị Như Lai. Nơi mặt ngài có 3 con mắt, trong mỗi con mắt ấy coi rất sắc sảo, dường như chăm chỉ ngó các chúng sanh mà có ý sanh lòng từ mẫn vậy. Toàn thân của ngài có mười tám cánh tay, mỗi bên chín cánh. Hai bàn tay ở trên hết thì kiết ấn Chuẩn Đề, như tướng đương lúc thuyết pháp. Tay trái thứ hai cầm lá phướn như ý, còn tay mặt kiết ấn thí vô uý. Tay trái thứ ba cầm một bông sen đỏ, còn tay mặt cầm cây gươm. Tay trái thứ tư cầm một bình nước, còn tay mặt cầm một xâu chuỗi Ni ma bửu châu. Tay trái thứ năm cầm một sợi dây kim cang, còn tay mặt cầm một trái la ca quả. Tay trái thứ sáu cầm một cái bánh xa luân, còn tay mặt cầm một cái búa. Tay trái thứ bảy cầm cái pháp loa, còn tay mặt cầm cái thiết câu. Tay trái thứ tám cầm một cái bình như ý, còn tay mặt cầm một cái chày kim cang. Tay trái thứ chín cầm một cuốn kinh Bát Nhã Ba La Mật, còn tay mặt cầm một xâu chuỗi dài. Ngài ngồi trên tòa sen, dưới có hai vị Long Vương ủng hộ. Đó là bửu tượng của ngài đại lược như vậy, nếu ai có lòng trì niệm, muốn chiến vọng mà quán tưởng, thì vọng niệm chẳng sanh mà chân tâm hiển hiện. Nếu công phu thuần thục lâu rồi, chẳng có chút gì gián đoạn, thì sẽ đặng phước quả rất rộng lớn, có ngày đạt tới nơi cực quả Bồ Đề nữa. Song đương thời kỳ mạt pháp, những người sơ cơ hành giả, tam nghiệp chưa thuần, chẳng hay làm theo phương pháp chư quán, nên tâm sanh biếng nhác, thì tự nhiên phải mất hẳn hột giống bồ đề. Nếu ai nương theo kinh pháp của ngài mà thọ trì, thì mau đặng chỗ linh nghiệm. Đương lúc quán tưởng thần chú của ngài, thì cần nhất phải tương phù, thì nẻo sanh tử nào mà ra chẳng khỏi, chỗ niết bàn nào mà chứng chẳng đặng! Vậy nên phải ân cần chuyên chú mà tu tập theo yếu pháp của ngài, thì sẽ thấy rõ các việc hiệu quả. Thần Chú Chuẩn Đề Khể thủ quy y Tô tất đế ầu diện đảnh lễ Thất câu chi Ngã kim xưng tán ại Chuẩn ề Duy nguyện từ bi thùy gia hộ Nam mô tát đa nẩm tam miệu tam bồ đề, Câu chi nẩm, Đát điệt tha, Án chiết lệ, chủ lệ, Chuẩn ề, Ta bà ha. Hiệu quả Tướng pháp, mặt mày quang minh sáng ngời, tâm không gợn chút bợn nhơ, vô tư trong sáng, siêng tu tịnh nghiệp, giải thóat hồng trần, lánh xa mùi tục lụy. Trì tụng thần chú Chuẩn ề còn có rất nhiều lợi ích khác Tai qua nạn khỏi tật bệnh tiêu trừ. Làm ăn mua bán ăn nên làm ra, gia đình hạnh phúc. Phiền não nghiệp chướng nặng nề đều tiêu pha. Trợ duyên cho lực tu bất thối chuyển. Giúp cho tam nghiệp thanh tịnh. Trừ ma chướng, ma lực nội tại, tâm an ổn, ma chướng ma lực ngoại tại không quấy nhiễu người tu. Nếu tụng chú Chuẩn đề, ngồi đàn chú Chuẩn ề còn có chỗ nghĩ suy Vọng tâm để trừ ma quỷ, thiên ma, trị quỷ ma ám hại trẻ con, trị con sát cho trẻ con, trị quỷ ma ám hại người khác, đều nầy sẽ dẫn đến dị đoan? Tụng chú Chuẩn đề Phật Mẫu đạt đến chỗ thần thông mật nguyện, thì các vị Pháp sư sẽ khuyến tấn chúng sanh, mọi người cũng tinh tấn tụng chú lực Chuẩn ề để được như ý nguyện thì Pháp sư ấy hành đạo có phần đúng chánh pháp. Kinh Phật dạy tụng thần chú trừ ma quỷ, tức là trừ nghiệp chướng tham sân si bản thân, trì tụng để được giải thoát, không phải trì tụng chú Chuẩn ề để trừ ma quỷ giùm cho người khác. iều nầy chỉ có những người ngoại đạo, các ông thầy pháp, thầy lỗ bang… mới có ý tưởng đó. ức Phật không dạy chư Tăng Ni, Phật tử làm việc “Mê tín dị đoan” mất thời giờ tu tĩnh cho mọi người, mất công vô ích. Trì niệm chú Chuẩn ề Sanh trí lực trì tụng chú Chuẩn ề Sanh phước lực, chúng ta nên thường xuyên nương theo Tổ lực của ngài Long Thọ mà đảnh lễ quy y ức Phật Mẫu. Trên là bốn câu kệ của Tổ sư Long Thọ Khể thủ… tán thán đảnh lễ Phật Mẫu, dưới đây là nói về thần chú Nam mô Tát đa nẩm, tam miệu tam bồ đà, Câu chi nẩm đát điệt tha. Án, Chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. Trích Kinh Tam Bảo của Cụ Hồng Tại oàn Trung Còn. Lực dụng thần chú Người trì tụng thần chú đủ chín mươi muôn biến, có thể diệt được các tội thập ác, tứ trọng và ngũ nghịch. Nhẫn đến với nhà thế tục nào bất luận là tịnh hay uế, chỉ cần chí tâm tụng trì thần chú, liền được tiêu trừ nạn tai bệnh họan và tăng long phước thọ. Tụng đủ 49 ngày, liền được Phật Mẫu sai hai vị Thánh giả phù hộ người ấy trong những lúc đi đứng nằm ngồi Nhị khóa hiệp giải, trang 87, HT. Thích Khánh Anh biên dịch, GHTGNV xuất bản. Ở sự linh diệu khác, nếu hành giả siêng tu trì tụng chú nầy đến ngày lâm chung thác sanh vào chổ thiện duyên và hưởng nhiều sự an lạc trong cuộc đời. ối với người Phật tử giữ đủ tam quy, trì năm giới, một lòng kiên cố, không thối chuyển, siêng trì tụng thần chú Chuẩn ề, lâm chung sanh về cõi trời, hưởng phúc đức đời đời, hay là sanh trong cõi nhơn gian làm vị Quốc chủ trong thiên hạ, hoặc làm bậc công hầu, thường gần gũi các vị thánh hiền, chư thiên ái kính, ủng hộ gia trì, không đọa vào đường ác duyên, ác thú. ối với những người thích kinh doanh trên thương trường thế cuộc, thì gặp vận may, không có tai hại gì, cho đến nghi dung đoan chánh, lời nói ôn hòa, tâm không phiền não, an nhàn tự tại, lui tới thung dung, hưởng phước báo một đời rất nên mỹ mãn. Lực dụng xuất thế gian Nói đến hiệu quả của người xuất gia, nếu gìn giữ giới cấm hoàn toàn, công hạnh thuần thục, mỗi ngày siêng tu ba thời tụng niệm, rồi y theo pháp của ức Chuẩn đề mà tu hành và chí nguyện cầu đến chổ tất địa xuất thế gian của chư Phật, thì tự nhiên tâm không ái ngại, tánh lại viên minh, một màu thanh tịnh, không còn trước nhiễm nơi cảnh hữu vi, chỉ thấy định huệ hiện tiền, viên mãn quả địa Ba la mật, tương lai chứng quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. ức Chuẩn ề Phật Mẫu là ngôi pháp thân Bồ tát ở cõi trang nghiêm thế giới, không có giáng sanh nơi cõi nhân gian. Song giáo pháp của ngài rất bí mật mà nay được rõ biết đây, là do nơi ức Phật Thích Ca giải rõ chỗ nhân địa và hình tướng, nên người sau mới biết công đức và họa tượng thờ ngài với mười tám tay, mỗi bên chín cánh, mỗi tay cầm một bửu báu là như vậy. Tâm Hướng Phật/St!
I. BÀI HỌC 1. Định Nghĩa - Tụng kinh là đọc thành tiếng và có âm điệu hoặc đọc thầm những lời Phật dạy một cách thành kính. - Trì chú trì là nắm giữ, nhiếp niệm. Chú là lời bí mật của chư Phật. Trì chú là nhiếp tâm vào những bài thần chú. - Niệm Phật Niệm là nhớ nghĩ. Niệm Phật là nhớ nghĩ danh hiệu, hình ảnh và đức hạnh của chư Phật. 2. Ý nghĩa tụng kinh, trì chú, niệm Phật a. Ý nghĩa tụng kinh - Giúp cho chúng ta nhớ những lời Phật dạy để thực hành - Tụng kinh cho tâm hồn yên tịnh, trí tuệ mở bày. b. Ý nghĩa trì Chú - Chú có công năng phi thường, diệt trừ tất cả chướng nạn sâu dày. - Trì Chú giúp tâm trí được khai thông. c. Ý nghĩa niệm Phật - Niệm Phật để phá trừ tạp niệm, thanh tịnh tâm hồn, chuyển hóa nghiệp chướng. - Niệm Phật để cầu được vãng sanh. 3. Phương pháp tụng kinh, trì chú, niệm Phật - Tắm rửa, súc miệng sạch sẽ, mặc áo trang nghiêm, đến trước bàn thờ thắp hương đảnh lễ rồi nhất tâm tụng niệm. - Tụng kinh đọc lớn tiếng, rõ ràng từng câu từng chữ, để tâm vào lời kinh tiếng kệ. Có thể tụng chuyên nhất 1 bộ kinh, hoặc tụng hết bộ kinh này rồi mới qua bộ kinh khác. - Trì chú và niệm Phật đọc lớn hoặc đọc thầm, phải nhiếp tâm vào câu thần chú hay danh hiệu Phật. Nên trì chuyên nhất vào 1 câu thần chú, niệm chuyên nhất 1 danh hiệu Phật. - Tùy thời gian thích hợp mà ta tụng niệm theo thời khóa. Hoặc bất cứ ở đâu, lúc nào cũng có thể tụng kinh, trì chú, niệm Phật, cốt yếu tâm phải thanh tịnh, chuyên nhất. 4. Kết luận Tụng kinh, trì chú, niệm Phật là những phương pháp tu tập giúp cho 3 nghiệp được thanh tịnh. Khi thực hành phải nhiếp tâm, dứt bỏ mọi tạp niệm. Chỉ cần thực hành chuyên nhất một trong 3 phương pháp này, có thể giúp chúng ta giải thoát khổ đau ngay hiện tại. II. LỜI KHẤN NGUYỆN Kính lạy Phật! Giáo pháp của Ngài đã giúp con mở rộng trái tim để tiếp nhận tuệ giác, tình thương. Con nguyện tu tập, nhất tâm tụng niệm, chuyển hoá thân tâm và truyền trao nguồn giáo lý này đến với mọi người, cho hết thảy đều được an vui. III. CÂU HỎI CHIA SẺ 1. Tụng Kinh là gì? Ý nghĩa việc tụng kinh? 2. Trì chú là gì? Ý nghĩa việc trì chú? 3. Niệm Phật là gì? Ý nghĩa việc niệm Phật? 4. Cho biết phương pháp tụng kinh, trì chú, niệm Phật? 5. Kể tên một vài kinh, chú, danh hiệu Phật mà chúng ta thường tụng niệm? IV. SINH HOẠT 1. Bài hát NIỆM PHẬT DI ĐÀ 2. Hương vị cuộc sống NHỮNG HẠT ĐẬU BIẾT NHẢY Tác giả Lâm Thanh Huyền Tại biên giới của tỉnh Tây Khương sát với Tây Tạng, có một bà lão sống cô độc. Chồng và đứa con trai duy nhất của bà đã qua đời. Bà sống nhờ một thửa đất nhỏ trồng những hạt ngũ cốc. Vì cuộc đời đã trải qua nhiều gian truân từ nhỏ, bà lão cảm thấy nghiệp chướng trong người rất nặng, nên đã cố công tìm hỏi những người chung quanh phương pháp chuộc tội để cầu xin cho tâm hồn được bình yên. Cuối cùng thì bà được một người hành hương tốt bụng truyền cho một câu thần chú của Quán Thế Âm Bồ Tát. Câu thần chú gồm có sáu chữ Án Ma Ni Bát Di Hồng được gọi là Lục Tự Đại Minh Chú, có thể dùng để giải trừ những nghiệp chướng. Tội nghiệp cho bà già thôn dã đã dốt nát lại không biết chữ, trên đường về nhà bà lẩm bẩm cố học thuộc lòng, nhưng đã nhớ lôn cách phát Âm trở thành Án Ma Ni Bát Di Xanh. Để khích lệ cho việc đọc câu Kinh sám hối này bà bày ra hai cái chén, một cái chén không, còn một cái thì để đầy những hạt đậu nành. Mỗi khi đọc xong một câu thần chú, bà nhặt một hạt đậu từ trong chén đầy bỏ sang cái chén không, đến khi cái chén không đã chứa đầy đậu thì bà làm ngược trở lại. Bà lão đã không ngừng nghỉ, thành tâm tụng niệm suốt 30 năm. Lòng thành kính của bà đã ứng hiện cho nên sau này những hạt đậu không còn cần đến bàn tay của bà nhặt lấy, cứ một câu thần chú vừa được phát Âm ra thì một hạt đậu tự động nhảy sang cái chén bên cạnh. Bà lão thấy những hạt đậu tự động nhảy nhót, cộng hưởng với Âm điệu của câu thần chú thì biết rằng sự tu hành đã đúng đường và giai đoạn sám hối sắp sữa chấm dứt cho nên bà càng phấn khởi tụng niệm hăng say hơn. Hôm nọ có một vị Cao tăng từ Tây Tạng vân du qua đó, khi đi ngang qua chiếc lều tranh lụp sụp của bà, nhà Sư thấy có ánh hào quang tỏa ra rực rỡ. Vị Cao tăng này lấy làm kinh ngạc, ông nghĩ rằng bên trong chiếc lều tranh thế nào cũng có một vị chân tu đắc đạo. Ông vội vã ghé vào thăm hỏi. Bà lão lấy làm vui mừng khi thấy vị Cao tăng đến thăm, bà quỳ xuống đảnh lễ, mà miệng thì vẫn cứ tiếp tục lẩm bẩm câu thần chú Án Ma Ni Bát Di Xanh. Vị Cao tăng lấy làm ngạc nhiên vìkhông hiểu ánh hào quang rực rỡ mà ông thấy phía bên ngoài phát xuất từ nơi đâu? Ông lần lần hỏi thăm - Chẳng hay nữ thí chủ tu luyện bao nhiêu năm rồi? Ở đây còn có ai khác nữa không?. - Thưa Ngài, ở đây chỉ có một mình tôi sống cô độc hơn ba mươi năm nay. Bà lão đáp. - Thật tội nghiệp, bà ở một mình chắc buồn lắm nhỉ? - Không đâu, tuy chỉ ở một mình nhưng hàng ngày tôi tu hành và tụng Kinh sám hối để kiếp sau có thể hưởng được nhiều phúc đức của kiếp này, nhờ vậy mà tôi không cảm thấy buồn khổ. Nhất là từ lúc được một người hảo tâm chỉ cho cách tu luyện thì tôi càng có can đảm để sống hơn. - Bà đang tu luyện Kinh sách nào vậy? - Ồ, tôi không biết chữ, cho nên chỉ tụng niệm duy nhất một câu thần chú Án Ma Ni Bát Di Xanh. Nhà sư thở dài tiếc nuối - Bà lão ơi, bà đã đọc sai câu thần chú đó rồi, phải phát âm là Án Ma Ni Bát Di Hồng mới đúng. Đến lúc này thì bà lão mới biết là đã đọc sai câu thần chú hơn ba mươi năm. Bà rất đau buồn vì sự nhầm lẫn trọng đại này, như vậy thì công trình 30 năm tụng niệm coi như xe cát biển đông. Tuy nhiên bà cũng cảm ơn sự cải chính của nhà Sư. - Dù sao thì Ngài cũng đã đính chính kịp lúc, bằng không thì tôi còn tiếp tục sai mà không biết cho đến bao giờ mới điều chỉnh cho đúng được. Nhà sư từ giã bà lão để tiếp tục con đường truyền đạo của ông. Bà lão lại tiếp tục công việc tụng niệm của bà mà lần này với câu thần chú mới Án Ma Ni Bát Di Hồng. Thế nhưng tâm tư của bà còn hỗn độn vì sự việc vừa rồi cho nên ý chí của bà không được tập trung. Mỗi câu thần chú của bà đã không còn làm cho những hạt đậu hứng khởi nhảy sang cái chén bên cạnh như lúc trước. Bà lão vừa tụng niệm mà nước mắt cứ tuôn rơi, bà thầm tiếc cho công trình tu luyện hơn ba mươi năm như trôi theo dòng nước vì đã đọc sai câu thần chú. Nhà Sư đi được một đỗi xa, ông ngoái đầu nhìn lại thì thấy căn nhà của bà lão không còn hào quang chói sáng. Bây giờ túp lều tranh hiện hình dột nát mà lại âm u buồn bã. Nhà Sư giật mình và nghĩ rằng chính ông đã làm hại người Phật tử này không còn tập trung được tư tưởng như lúc trước. Ông vội vã trở lại túp lều tranh và nói với bà lão rằng - Lúc nãy ta chỉ đùa với bà thôi, câu thần chú của bà tụng mới thật là đúng. - Nhưng tại sao Sư phụ lại dối gạt tôi như vậy? - Ta muốn thử xem lòng thành kính của bà đối với Tam bảo như thế nào vậy thôi. Từ nay về sau bà cứ tiếp tục tụng niệm y như cũ là phải phép rồi. - Cám ơn Phật, vậy mà con cứ tưởng rằng công lao 30 năm tụng niệm đã trôi theo dòng nước, đa tạ Sư phụ chỉ bày. Sau khi nhà Sư ra đi, bà lão lại tiếp tục công việc tụng niệm, mỗi một câu Án Ma Ni Bát Di Xanh được niệm ra thì tâm hồn bà rộn rã tươi vui và một hạt đậu tự động nhảy sang cái chén bên cạnh. Nhà Sư đi lên đến đỉnh núi, ông ngoái đầu nhìn trở lại thì thấy hào quang phát ra từ túp lều tranh của bà lão đã làm sáng rực cả một góc trời. CLB Hoằng Pháp Trẻ theo
Tụng là đọc, tụng. Trì là hành trì. Kinh là lời Phật dạy được khẩu truyền, sau lưu lại thành văn bản lưu ý tam sao thất bổn. TỤNG KINH là đọc, tụng Kinh văn nhằm để hiểu thấu đáo lời Phật dạy trao truyền qua đó. Sau khi dùng Chánh kiến tư duy tận tường thấu đáo, hành giả ứng dụng – hành trì lời Phật dạy trong đời sống thường nhật, gọi là TRÌ KINH. Tụng Kinh là VĂN. Tư duy thấu đáo, hiểu rõ ngọn nguồn ý Kinh là TƯ. Trì Kinh là TU. Đó chính là VĂN – TƯ – TU mà Đức Phật đã từng dạy. Nếu tụng Kinh mà không dùng Trí huệ – Chánh kiến để tư duy thì chỉ là đọc tụng suông, tức VĂN, không được ích lợi gì! Một đứa trẻ biết đọc cũng có thể tụng Kinh điển làu làu không thua kém! Rõ ràng lợi ích đã không có nhưng cớ sao hiện nay đa phần Phật tử lại lầm rằng tụng Kinh càng nhiều, phước càng lớn? Đáng buồn hơn khi nhiều người nghĩ rằng ai tụng hay, nhớ nhiều Kinh văn thì người đó tu giỏi, rồi tự đắc khoe khoang hay thầm cười mãn nguyện mà không hề biết rằng mình đang lạc lối chớ nào có tu hành, Đạo còn dịu vợi xa. Nếu tụng Kinh VĂN mà dùng Trí huệ – Chánh kiến để tư duy, chiêm nghiệm nghĩa lý ẩn tàng rốt ráo thì đó là TƯ. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở đây tức rơi vào thông bệnh HỌC PHẬT như đã từng nhắc nhở. Nghịch lý người tu chạy vạy theo hết bằng cấp Phật học Cử nhân, Thạc sĩ, Tiến sĩ rồi đến bằng cấp học thuật thế gian để khẳng định mình trong đội ngũ Tăng đoàn và Phật tử, để được vinh danh là Học giả Phật giáo, Từ điển Phật học “sống”, thậm chí phạm Thượng cho là “A-Nan thời hiện đại” đã biến Đạo Phật giác ngộ giải thoát thành môn học thuật thế gian, đường lối tu chơn Giới – Định – Huệ Tu Phật tự ngàn xưa nay lầm lạc thành sở tri chướng Học Phật cho chấp Ngã – chấp Pháp thêm chất ngất, Pháp vị giải thoát của Như Lai chỉ còn là khẩu thuyết theo ý mê tâm vọng phàm thường mà diễn giải sai lạc chớ nào phải tâm hành kiến ngộ Giác Tánh mà phổ truyền Diệu Pháp. Than ôi! Điển tích “Niêm hoa thị chúng” mà Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni đã tâm ấn mật truyền phó Pháp cho Tổ Ma-Ha-Ca-Diếp kế thừa chính là Diệu Pháp về ĐƯỜNG LỐI TU PHẬT GIỚI – ĐỊNH – HUỆ mà Ngài đã trao truyền cho chúng sanh hậu thế y Giáo phụng hành, người tu thời nay sao chẳng liễu ngộ Phật ý mà Mê sự lao xao theo sự tướng huyễn bào? Bao đời chư Tổ “dĩ tâm ấn tâm” mà hoằng truyền mạng mạch Phật Pháp tại thế gian chớ nào có ai a dua theo bằng cấp, học vị, danh lợi… tầm thường lắm mùi tục lụy như sạn thốn mắt? Chớ hỏi vì sao hiện nay, Thiện-tri-thức thật sự đúng nghĩa nào có mấy ai! Do đó, bất kỳ ai, kể cả tu sĩ, nếu chỉ VĂN – TƯ mà không TU thì nặng trược chướng ngã HỌC PHẬT, không phải TU PHẬT nên đó không phải là người tu hành chơn chánh. Phước hay chướng nếu miệng thuyết mà tâm chẳng hành chơn chánh tương ưng? Nhân – Quả theo đó ra sao, tin rằng Đại chúng đã rõ! Nếu tụng Kinh VĂN, sau đó dùng Trí huệ – Chánh kiến để tư duy, chiêm nghiệm tận tường thấu đáo ý Kinh TƯ rồi lãnh thọ, tinh tấn hành trì trong đời sống thường nhật, trau Tâm dưỡng Tánh, nhiêu ích chúng sanh thì đó là TU, lợi lạc vô cùng tùy theo căn trí và tâm lượng của mỗi người. Hãy nhớ Phật đạo do tâm hành mà giác nên sự hành trì tu dưỡng càng cao, công phu thiền định càng thâm thì nghiệp chướng càng chóng tiêu trừ, trí huệ càng sáng, đức hạnh càng sâu, đến khi Chơn tâm Giác tánh hiện tiền kiến Tánh thì diệu dụng hóa độ chúng sanh trong khôn cùng cảnh giới khắp cõi 10 phương như Chơn nguyện là vô lượng vô biên, không thể nghĩ bàn. * TÓM LẠI TỤNG KINH không lợi lạc gì! Dẫu có thường xuyên, đều đặn tụng Kinh mỗi ngày 4 thời trước Phật đài đi nữa thì cũng phí công vô ích mà thôi! Như Ngũ giới hay Thập giới của phái cư sĩ tại gia có lẽ ai cũng biết, tuy nhiên nếu không thọ trì thì cái biết đó có ích lợi cho đời sống của mình không? Hay tụng Kinh Vu Lan nói về lòng yêu thương bao la vô điều kiện, công ơn sanh thành dưỡng dục và đức hy sinh cao cả của Cha Mẹ dành cho con cái, ta có nghĩ đến thực tế mình đã vuông tròn Hiếu đạo hay chưa? Nghĩ đến rồi, ta có chuyển thành hành động thiết thực ân cần quan tâm, chăm sóc, hiếu để với mẹ cha bất luận tháng ngày không hay chỉ là “hiếu trong tư tưởng” rồi thôi? Ta có nỗ lực tu hành để hồi hướng cho song thân, dẫu Người còn hay đã khuất, nói riêng cũng như tất cả Pháp giới chúng sanh nói chung, đền đáp Tứ ân trong muôn một hay chưa?… Hãy tự soi xét lại mình mà tỉnh ngộ và tinh tấn hành trì lời Phật dạy! TRÌ KINH thì muôn phần lợi ích, sai khác tùy tâm lượng thọ trì của mỗi người! Rốt ráo hơn, TRÌ TÂM tức trưởng dưỡng hạnh Từ – Bi – Hỷ – Xả, tịnh nhiếp 6 căn trụ tâm thiền miên mật ba thời chẳng mỏi. Nếu có thể công phu đến NHIẾP TÂM THÀNH GIỚI thì ĐỊNH – HUỆ khai, kiến ngộ Giác Tánh, liễu thoát tử sanh! CHƠN KINH, DIỆU PHÁP được lưu xuất từ Trí Huệ Vô Sư, Chơn tâm Giác tánh của Bậc kiến Tánh nên luôn khế lý hiệp chơn, không bị Tà mị hư vọng tam sao thất bổn. Và chỉ có Bậc kiến Tánh mới minh định liễu trạch rốt ráo Diệu Pháp Phật truyền giữa thời mạt tâm loạn Pháp hiện nay. Ai thống thiết với sự sanh tử vô thường thoáng không hẹn trước, ai xót xa thấu cảm với nỗi khổ của tha nhân và muôn vạn chúng sanh như thể mình đồng cảnh ngộ mà nguyện Từ Bi cứu độ tất cả, tiếp gót Như Lai thì chắc chắn người đó sẽ không màng sanh tử mà tự giác nhẫn lực tu hành miên mật không mệt mỏi. Ngược lại, a dua vui say thói tục dưới hình tướng Tăng sĩ và danh nghĩa Phật Pháp trên sự cúng dường của đàn na tín thí và niềm tin Tam Bảo của chúng sanh thì chắc chắn Phật chủng không còn, huệ mạng dứt lìa, khổ đọa muôn kiếp. Mong tất cả tỉnh tâm TU PHẬT! Diệu Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật __ Diệu A Di Đà Phật __ Cổ Thiên
Thần Chú Đại Bi là một hình thức bằng lời nói của Đà La Ni Dharani, một kinh điển sử dụng các âm tiết để truyền tải một thông điệp siêu việt mạnh mẽ và hiệu quả, tạo ra một trạng thái ý thức đặc biệt và được cho là có khả năng giải phóng tất cả các chúng sinh đau khổ dưới địa ngục và trần người thân trong gia đình tôi rất tin vào sự mầu nhiệm của Phật, Bồ tát nói chung và Chú Đại Bi nói riêng. Khoảng thời gian trước, khi nghe người thân mình tụng những âm thanh kỳ lạ này, tôi thắc mắc và hỏi họ về ý nghĩa của thần tất cả câu trả lời đều không biết hoặc không thể biết vì họ nói rằng, đây là âm tiết Thánh, thần chú của Bồ tát Quan Thế Âm, không cần hiểu ý nghĩa của nó nhưng trì tụng với tâm chân thành thì sẽ được Bồ tát gia hộ tai qua nạn khỏi. Và tôi tin điều đó!Tôi rất thích nghe nhạc Chú Đại Bi và cũng thường xuyên tụng niệm thần chú, nhưng sự tò mò bên trong đã thôi thúc tôi tìm hiểu rõ hơn về nó. Vì vậy, tôi đã lên mạng tìm kiếm những bài viết nói về công năng và ý nghĩa của Chú Đại Bi – mục đích chính của việc trì tụng thần chú này để gửi đến quý độc giả Đại Bi là gì?Nguồn gốc của Chú Đại BiCông năng của Chú Đại BiNgười nào thường niệm Chú Đại Bi thì sẽ không bao giờ bị 15 hình thức chết sau đâyNgười nào đang giữ và niệm Chú Đại Bi sẽ nhận được 15 điều tốt lành sau đâyNội dung Chú Đại Bi phiên âm tiếng ViệtÝ nghĩa vi diệu của Chú Đại BiNghi thức trì tụng Chú Đại BiMột số video trì tụng Chú Đại Bi rất hay và truyền cảmChú Đại Bi được biết đến với cái tên Đại Bi Tâm Đà La Ni Great Compassion Mantra hay Da Bei Zhou là một thần chú Phật giáo dài 84 dòng của Phật giáo Đại Thừa, lần đầu tiên được dịch từ tiếng Phạn Sanskrit sang tiếng Trung Quốc vào thế kỷ thứ Chú Đại Bi là một hình thức bằng lời nói của Đà La Ni Dharani, một kinh điển sử dụng các âm tiết để truyền tải một thông điệp siêu việt mạnh mẽ và hiệu quả, tạo ra một trạng thái ý thức đặc biệt và được cho là có khả năng giải phóng tất cả các chúng sinh đau khổ dưới địa ngục và trần Đại Bi còn có những tên gọi khác là Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Đại Bi Tâm Đà La Ni, Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, Thanh Cảnh Đà La có lẽ là câu thần chú phổ biến thứ 2 sau Om Mani Padme Hum. 84 là một con số đẹp trong đạo Phật, mặc dù là một thần chú tương đối dài nhưng nó được tụng niệm bởi nhiều Phật tử nhiệt thành của Đức Phật để thể hiện lòng bi mẫn với tất cả chúng khắp thế giới, hàng triệu Phật tử tại gia tụng niệm Chú Đại Bi của Bồ Tát Quan Âm để thụ hưởng những lợi ích to lớn từ việc chữa lành, bảo vệ và thanh lọc của thần sao Chú Đại Bi lại phổ biến? Bởi vì nó mang một ý nghĩa vô cùng to lớn, nó thể hiện lòng từ bi vô lượng của chư Phật và Bồ tát dành cho tất cả chúng sinh. Đây là cốt lõi của sứ mệnh từ bi của Bồ lợi ích trước mắt, như được giảng dạy trong kinh điển là tịnh hóa nghiệp xấu, thanh lọc, chữa lành và bảo vệ. Với lòng từ bi vĩ đại, Chú Đại Bi có thể làm giảm những đau khổ và khó khăn của mọi giống loài trên hành tinh với những Phật tử theo tư tưởng Phật giáo Đại Thừa thì ai cũng biết Chú Đại Bi, những lợi ích mà thần chú mang lại là không thể kể hết. Vì vậy, Phật tử niệm thần chú này rất nhiều, họ thường xuyên đi chùa lễ Phật, ăn chay, phóng sanh và làm từ thể, Chú Đại Bi đã ảnh hưởng tích cực đến một phần nào đó trong tâm trí họ, phát triển lòng từ bi và tình yêu thương trong một cơ thể phải thường xuyên đối mặt với những nghịch cảnh của cuộc chú thường được hát hay tụng niệm bằng tiếng Phạn, chứ không phải bản dịch tiếng Anh, Thái, Việt hoặc Trung Quốc. Những bản dịch thường đòi hỏi người dịch phải nghiên cứu sâu về “ý nghĩa từ”, nhưng cũng giống như mọi câu thần chú khác, ý nghĩa của từ không quan Phạn Sankrit là một ngôn ngữ của những “âm tiết Thánh”, không chỉ những từ được hình thành mà còn những âm thanh thiêng liêng có các lớp ý nghĩa vô hình của nó. Vì lý do này, Chú Đại Bi Great Dharani thường được tụng bằng tiếng gốc của Chú Đại BiNguồn gốc Chú Đại Bi bắt nguồn từ câu chuyện giữa Quán Thế Âm Bồ Tát Avalokitesvara và chư Phật Trong kinh ngài Quán Thế Âm Bồ Tát bạch Phật rằng“Bạch đức Thế Tôn, con có Chú Đại Bi Tâm Đà Ra Ni, nay xin nói ra, vì muốn cho chúng sanh được an vui, được trừ tất cả bệnh tật, được sống lâu, được giàu có, được diệt tất cả nghiệp ác, được xa lìa chướng nạn, được thành tựu tất cả thiện căn, được tiêu tan tất cả sự sợ hãi, được mau đầy đủ tất cả những chỗ mong cầu. Cúi xin Thế Tôn từ bi doãn hứa.” Rồi sau đó đọc Chú Đại Tát thuyết chú xong, cõi đất sáu phen biến động, trời mưa hoa báu rơi xuống rải rác, mười phương chư Phật thảy đều vui mừng, thiên ma ngoại đạo sợ dựng lông tóc. Từ đó Chú Đại Bi ra đời và tất cả chúng sinh đều được quả Tát đã đem lại sự cứu rỗi cho tất cả mọi người, ngay cả những người đã từng phạm phải những tội lỗi không thể tha thứ. Quan Thế Âm Bồ Tát là một trong những vị Bồ tát quan trọng nhất trong Phật giáo Đại Thừa, người tượng trưng cho lòng trắc ẩn của tất cả chư năng của Chú Đại BiCông dụng của Chú Đại Bi là bảo vệ, thanh lọc và phát triển lòng từ mầu nhiệm và linh nghiệm của Chú Đại Bi là không thể bàn cãi. Nó có tác dụng bảo vệ, thanh lọc và cũng có thể chữa lành tất cả loại bệnh, nhất là những phiền não về Wikipedia, Đại Bi chú là chân ngôn phổ biến cùng với phật Quán Thế Âm ở Đông Á, bài chú này thường được dùng để bảo vệ hoặc để làm thanh tịnh, quả báo phước đức của người trì tụng chú thật không thể nghĩ bàn!Cho dù bạn có theo đạo Phật hay không, bạn có tin vào sự linh nghiệm của thần chú hay không thì khi bạn khởi niệm Chú Đại Bi, bạn sẽ nhận được những lợi ích kỳ diệu không thể giải thích của thần chú Tát Quan Thế Âm nói về công đức trì tụng Chú Đại BiBhagavan, bất kỳ một sinh vật sống nào niệm và giữ thần Chú Đại Bi nếu rơi vào ba con đường tà ác, tôi nguyện không đạt được giác bất kỳ người sống nào đang niệm và giữ thần Chú Đại Bi không được tái sinh trong bất kỳ cõi Phật nào, tôi nguyện không đạt được giác bất kỳ ai khi niệm và giữ thần Chú Đại Bi không có được hạnh phúc và sự hùng biện không giới hạn, tôi nguyện không đạt được giác bất kỳ người nào đang niệm và giữ thần Chú Đại Bi, nếu không có được bất cứ điều gì trong cuộc sống hiện tại của mình, thì nó không thể gọi là Đà La Ni của Trái Tim Từ Bi, trừ khi nó được sử dụng bởi những người không có đạo đức hay không hoàn toàn chân nào thường niệm Chú Đại Bi thì sẽ không bao giờ bị 15 hình thức chết sau đâyHọ sẽ không chết đói hoặc thiếu sẽ không chết vì bị áp bức, bỏ tù, bị đánh sẽ không chết dưới kẻ thù thù sẽ không bị giết trong trận chiến quân sẽ không bị giết bởi hổ, sói, hoặc những con thú sẽ không chết vì nọc độc rắn độc hoặc bọ sẽ không bị chết đuối hoặc bị thiêu sẽ không bị đầu độc cho đến sẽ không chết vì phép sẽ không chết vì điên sẽ không bị giết bởi những vụ lở đất hoặc những cây cối sẽ không chết vì những cơn ác mộng do những người xấu gây sẽ không bị giết bởi ma quỷ hay ác sẽ không chết vì những bệnh hiểm sẽ không tự nào đang giữ và niệm Chú Đại Bi sẽ nhận được 15 điều tốt lành sau đâyNơi sinh của họ sẽ luôn luôn có một vị vua sẽ luôn được sinh ra ở một đất nước sẽ luôn được sinh ra vào thời điểm sẽ luôn gặp những người bạn cơ quan của cơ thể sẽ luôn luôn khoẻ tim của họ sẽ tinh khiết và đầy sẽ không vi phạm những điều cấm đình của họ sẽ tử tế và hài sẽ luôn có sự giàu có và hạnh sẽ luôn nhận được sự tôn trọng và giúp đỡ của người giàu có của họ sẽ không bị cướp sẽ có được mọi thứ họ tìm con rồng, thần linh và tinh thần tốt sẽ luôn luôn bảo vệ nơi sinh ra, họ sẽ thấy Đức Phật và nghe sẽ thức tỉnh với ý nghĩa sâu sắc của Phật Pháp thích hợp mà họ nghe bạn tụng niệm Chú Đại Bi 108 lần mỗi ngày trong 1000 ngày, mười phương chư Phật sẽ rất vui mừng, gia đình bình an, hạnh phúc và tất cả các bệnh sẽ được chữa cả ma quỷ ở địa ngục phải cúi xuống đối với bạn, các vị Phật trong quá khứ, hiện tại và tương lai sẽ bảo vệ bạn. Họ sẽ thông báo cho tất cả các hồn ma khác không để cho bạn gặp rắc rối. Vì vậy, sức mạnh của thần chú này là không thể tưởng chú giúp chúng ta nuôi dưỡng Bồ đề tâm, phát tâm từ bi để giúp đỡ mọi người, hãy cho đi để được nhận lại, hãy là những cánh tay nối dài của Bồ tát trong việc phổ độ chúng sinh. Với một trái tim chân thành kèm theo những hành động tích cực, chắc chắn bạn sẽ nhận được lợi ích tốt lành từ thần chú nếu làm theo các hướng là trích dẫn từ lời của Hòa Thượng Tuyên Hóa“Nếu con người hay các vị thần đọc và giữ Chú Đại Bi, thì khi họ tiến đến sự kết thúc của cuộc đời, tất cả chư Phật mười phương sẽ đến để đón họ, và giúp họ tái sinh trong bất cứ cõi Phật nào họ muốn, theo nguyện vọng của họ…Những người và những vị thần niệm và trì tụng thần chú này sẽ có 15 loại sinh tốt và sẽ không bị 15 cái chết xấu…Tất cả các vị thần và con người phải thường xuyên niệm và giữ nó, mà không cần suy nghĩ”.Nội dung Chú Đại Bi phiên âm tiếng ViệtChú Đại Bi Tiếng Trung Quốc, Ảnh là văn bản Chú Đại Bi tiếng Việt được nhiều người đọc tụng nhất trong cộng đồng Phật giáo Việt mô đại bi Hội Thượng Phật Bồ tát 3 lần.Thiên thủ thiên nhãn, vô ngại đại bi tâm mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da bà lô yết đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị da, bà lô kiết đế, thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô, kiết mông độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô, ma ra hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ na ra cẩn trì địa rị sắc ni na, ba dạ ma na, ta bà đà dạ, ta bà ha. Ma ha tất đà dạ, ta bà ha. Tất đà du nghệ, thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra, ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha. o Nam mô hắc ra đát na, đa ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô yết đế, thước bàng ra dạ, ta bà ha. Án, tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ ta bà nghĩa vi diệu của Chú Đại BiMột số người cho rằng trì tụng Chú Đại Bi thì không cần hiểu ý nghĩa của nó. Bởi ví nó là những âm tiết Thánh, chỉ có các vị Phật hoặc bậc giác ngộ mới lý giải có người nói rằng trì chú, tụng kinh hay niệm Phật cũng giống như thiền. Đó là chú tâm vào đối tượng mà không đưa tư chủ quan vào để lý giải hay phán xét. Để thần chú tự biểu lộ ý nghĩa của chính là lý do mà nhiều người trong lúc trì tụng Chú Đai Bi không nên tìm hiểu ý nghĩa; nhưng khi nhập thế, khi mở mắt ra thì phải thông đạt mọi chuyện, đem sự thông đạt đó vô chuyện tu hành của mình và chia sẻ ý nghĩa đó với người khác để họ hiểu. Sau đây, Hoa Sen Phật xin giải nghĩa từng câu trong Chú Đại Bi để mọi người hiểu hơn về bài chú nàyNam Mô Hắt Ra Đát Na Đa Ra Dạ Da Bổn thân Quan-Âm Bồ-Tát hóa hiện tướng hành giả cầm chuỗi lễ tụng cầu Bồ-Tát cảm Mô A Rị Da Quan-Âm hóa hiện tướng tay bưng Như-Ý Pháp-Luân. Hành giả y giáo phụng Lô Yết Đế Thước Bát Ra Da Quán-Âm hóa hiện tướng Quán-Tự-Tại trì bát. Hành giả quán tưởng khiến chúng sanh được trường Đề Tát Đỏa Bà Da Quan Âm hiện thân Bất Không Quyên Sách Bồ Tát tự giác giác tha, phổ độ chúng Ha Tát Đỏa Bà Da Quan Âm hiện tướng tụng chú, theo pháp tu trì, được thiện giải Ha Ca Lô Ni Ca Da Quan Âm hóa hiện tướng Mã-Minh Bồ Tát tự giác giác tha, tự đô tự Quan Âm hóa hiện tướng các Thần Quỷ Vương chắp tay tụng chú. Chư Phật quán tưởng chữ Án thành chánh Bàn Ra Phạt Duệ Quan Âm hóa hiện tướng Tứ Đại Thiên Vương dùng lục độ hoá độ chúng Đát Na Đát Tỏa Quan Âm hóa hiện tướng Bộ-Lạc Tứ Đại Thiên Vương khiến cải ác theo Mô Tất Cát Lật Đỏa Y Mông A Rị Da Quan Âm hiện tướng Long Thọ Bồ Tát hộ trì người tu hành, hàng phục tất cả ma Lô Kiết Đế Quan Âm hiện tướng Phật Viên Mãn báo Thân Lô Xá Na rộng độ vô lượng chúng Mô Na Ra Cẩn Trì Quan Âm hiện tướng Phật Thanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na gia hộ chúng sanh an Rị Ma Ha Bàn Đa Sa Mế Quán Âm hiện tướng Dương Đầu Thần Vương hộ trì hành giả xa lìa loài ác Bà A Tha Đậu Du Bằng Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Cam Lộ Vương tay cầm cành dương, tay cầm bình ngọc cam lộ độ chúng Thệ Dựng Quán Âm hiện tướng Phi Đằng Dạ Xoa Thiên Vương tuần sát bốn phương khuyến thiện ngừng Bà Tát Đa Na Ma Bà Tát Đa Na Ma Bà Già Quán Âm hiện tướng Thần Vương Bà Già Bà Đế độ chúng sanh có Phạt Đạt Đậu Quan Âm hiện tướng Quân Tra Lợi Bồ Tát mặt có ba con mắt cảm hóa ác nhơn hướng Điệt Tha Quán Âm hiện tướng A La Hán thuyết pháp độ chúng A Bà Lô Hê Quan Âm hiện tướng Quan Âm Bồ Tát từ bi vô lượng cứu khổ ban Ca Đế Quan Âm hiện tướng Đại Phạm Thiên Vương ở trong mười phương thế giới độ thoát chúng Ra Đế Quan Âm hiện tướng Đế Thần ở trong mười phương thế giới thường cứu chúng Hê Rị Quan Âm hóa hiện tướng Thiên Thần Ma Hê Đầu La thống lãnh thiên binh độ chúng Ha Bồ Đề Tát Đỏa Quan Âm dùng tâm nguyện thanh tịnh, từ bi vô ngã cảm ứng độ người chân thật tu Bà Tát Bà Quan Âm hiện thân Bồ Tát Hương Tích điều phục năm phương chúng quỷ theo hầu cứu giúp chúng Ra Ma Ra Quan Âm hiện Bạch Y Bồ Tát tay mặt cầm Như Ý, tay trái dắt đồng tử khiến chúng sanh được trường Hê Ma Hê Rị Đà Dựng Quan Âm hiện tướng Phật A Di Đà khiến chúng sanh khi hết thân nầy đồng sanh Cực Lạc Lô Cu Lô Yết Mông Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Không Thân hàng phục vạn ức thiên binh, hóa độ vô lượng chúng Lô Độ Lô Phạt Xà Da Đế Quan Âm hóa thân Bồ Tát Nghiêm Tuấn áp lãnh man binh Khổng Tước Vương hàng phục các ma Ha Phạt Xà Da Đế Quan Âm hóa hiện Đại Lực Thiên Tướng tay cầm Bảo Xử hộ trì chúng sanh, tinh tấn tu La Đà La Quan Âm hiện tướng trượng phu tu khổ hạnh khiến chúng sanh phá trừ ngã chấp pháp Rị Ni Quan Âm hiện tướng Sư Tử Vương xét nghiệm người tụng chú khiến chúng sanh tiêu trừ tai Phật Ra Da Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Thích Lịch tay cầm Kim Xử hàng phục các ma và quyến thuộc của Ra Giá Ra Quan Âm hiện thân Bồ tát Tồi Toái tay cầm Kim Luân hóa độ oán ma điều phục Mạ Phạt Ma Ra Quan Âm hiện thân Đại Hàng Ma Kim Cang tay cầm Kim Luân hộ trì chúng sanh đắt đại cát Đế Lệ Quán Âm hiện tướng chư Phật, Bồ Tát chắp tay lắng lòng nghe tụng thần chú, hành giả phụng trì chứng đắt Phật Hê Y Hê Quan Âm hiện thân Ma Hê Thủ La Thiên Vương cảm triệu nhơn thiên thuận Na Thất Na Quán Âm hiện thân Ca Na Ma Tướng Thiên Vương, hóa lợi chư Thiên, không gây tai hại nhân Ra Sâm Phật Ra Xá Lợi Quan Âm hiện tướng tay cầm khiên, tay cầm cung tên kính tụng thần chú đắc pháp tự Xa Phạt Xâm Quan Âm hiện thân Kim Khôi Đại Tướng cầm linh thuận thời giáo hóa độ chúng Ra Xá Da Quan Âm hiện tướng Phật A Di Đà, chúng sanh tưởng niệm thì hiện tiền tương lai sẽ thấy Lô Hô Lô Ma Ra Quán Âm Hiện Tướng Bát Bộ Thần Vương chắp tay niệm từ bi hàng phục chúng Lô Hô Lô Hê Rị Quan Âm hiện tướng Tứ Tý Tôn Thiên tay bưng Nhật Nguyệt chiếu sáng hóa độ nhơn Ra Ta Ra Quan Âm hóa độ Phổ Đà Sơn hiển linh bất khả tư nghì, có ý nghĩa Ta-Bà khổ như núi non hiểm Rị Tất Rị Quán Âm hiện tướng mạo từ bi tay cầm cành dương, tay cầm tịnh bình rưới nước cam lồ cứu khổ độ Rô Tô Rô Quán Âm hóa tướng lá cây rụng, chúng sanh nghe tiếng được bốn lợi ích quán đảnh, mát thân, tâm vui, đầy Đề Dạ Bồ Đề Dạ Quan Âm hiện tướng diện mạo từ bi thân cận trẻ con giáo hóa lợi ích chúng Đà Dạ Bồ Đà Dạ Quan Âm hiện tướng A Nan tôn giả tay cầm bình bát hóa độ chúng Đế Rị Dạ Quan Âm hiện tướng Di Lặc Bồ Tát chỉ dạy chúng sanh tu hạnh đại bi, được chơn giác ngộ an Ra Cẩn Trì Quan Âm hiện tướng Địa Tạng Bồ Tát khai ngộ chúng sanh tỉnh giác mê chấp, được thoát khổ ác Rị Sắc Ni Na Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Bảo Tràng tay kiết ấn, tay cầm Kim Xoa làm lợi ích chúng Dạ Ma Na Quan Âm hiện tướng Bảo Kim Quang Tràng Bồ Tát cầm Bạt Chiết La Xử lợi ích độ Bà Ha Quan Âm hiện tướng ba đầu Viên-Tịch Thắng-Nghĩa lợi ích độ Đà Dạ Quan Âm hiện tướng tôn giả Xá Lợi Phất tay kiết ấn Liêm Thủ thông đạt tất cả Bà Ha Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Hằng Hà Sa đứng trên đầu rồng, dùng tâm cát tường hóa độ chúng Ha Tất Đà Dạ Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Phóng-Quang tay cầm tràng phan báu lợi ích độ Bà Ha Quan Âm hiện tướng tôn giả Mục Kiền Liên tay cầm tích trượng, bình bát dứt trừ tai ương, cứu độ chúng Đà Du Nghệ Quan Âm hiện Tây Phương Cực Lạc, tất cả chư Thiên, Bồ Tát vân tập thính thọ pháp hỷ, hóa độ thập phương nhơn Bàn Ra Dạ Quan Âm hiện tướng Thiên Nữ Tự Tại Viên MãnTa Bà Ha Quan Âm hiện tướng tôn giả A-Xà-Na hoan hỷ bưng cao bình bát tăng trưởng tâm lợi ích độ Ra Cẩn Trì Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Sơn Hải Huệ tay cầm kiếm vàng hóa độ thánh-giả Bà Ha Quan Âm hiện tướng tôn giả Chiên Đà La quảy nón lá vô trụ thắng nghĩa độ hóa chúng Ra Na Ra Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Bảo Ấn Vương tay cầm búa vàng Như Ý kiểm nghiệm tâm hạnh chúng Bà Ha Quan Âm hiện tướng tôn giả Câu Hy La mang giầy cỏ đạp trên sóng nước phát sanh tiếng hải triều cảnh giác tâm chúng Ra Tăng A Mục Khê Da Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Dược Vương tay cầm dược thảo trừ bịnh khổ chúng Bà Ha Quan Âm hiện tướng Viên Mãn Bồ Tát thân mặc y đỏ chấp tay tâm viên mãn an lạc chúng Bà Ma Ha A Tất Đà Dạ Quan Âm hiện tướng Dược Thượng Bồ Tát tay cầm bình ngọc giải trừ tật khổ chúng Bà Ha Quan Âm hiện tướng tôn giả Xá Lợi Phất tay cầm chơn kinh cứu cánh thắng nghĩa hóa đạo chúng sanh quy Tịnh Kiết Ra A Tất Đà Dạ Quan Âm hiện tướng Thần Hổ gầm, tay cầm búa kiên định tâm hàng phục ma Bà Ha Quan Âm hiện tướng chư Thiên Ma Vương tay cầm Xà Thương hóa đạo chúng sanh giải trừ tâm oán Đà Ma Yết Tất Đà Dạ Quan Âm hiện tướng Linh Hương Thiên Bồ Tát bưng lư Như Ý hộ trì chúng Bà Ha Quan Âm hiện tướng Tán Hoa Thiên Bồ Tát tay cầm bảo liên ngàn cánh thành tựu chúng sanh lợi ích an Ra Cẩn Trì Bàn Già Ra Dạ Quan Âm hiện tướng Tôn Giả Phú Lâu Na tay bưng bình bát cứu độ chúng sanh lìa tai Bà Ha Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Đà La Ni Từ tay bưng trái tươi bố thí độ sanh chân thật tu hành rõ pháp tánh Bà Lợi Thắng Yết Ra Dạ Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Tam Ma Thiền Na kiết già trên bánh xe, tay bưng đèn ngọc sáng khắp pháp Bà Ha Quan Âm hiện tướng tôn giả Đại Ca Diếp tay trái cầm chuỗi, tay mặt cầm thiền trượng chỉ dẫn chúng sanh tu Mô Hắc Ra Đa Ra Dạ Da Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Hư Không Tạng cầm hoa ngồi trên đá khiến cho chúng sanh kiên định tín tâm dõng mãnh tinh Mô A Rị Da Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Phổ Hiền kiết già thiền tọa trên Hương Tượng khiến chúng sanh viên mãn công Lô Kiết Đế Quan Âm hóa thân Bồ Tát Văn Thù ngồi trên sư tử tay chỉ hư không khến chúng sanh khai Bàn Ra Dạ Quan Âm hiện tướng hoa sen ngàn cánh giải trừ chúng sanh ái sắc trần hư vọng, thấy tự tánh Bà Ha Quan Âm hiện tướng buông thõng hai tay giải trừ nhĩ căn phân biệt thanh trần hư vọng, nghe tự tánh Tất Điện Đô Quan Âm hiện tướng mở hai bàn tay đoạn tỳ căn ái nhiễm hương trần, tự giác tánh Đà Ra Quan Âm hiện tay Đâu La Miên đoạn trừ căn ái nhiễm vị trần hư vọng, tự giác tánh Đà Dạ Quan Âm hiện tướng tay bưng bát hương giải trừ tham ái chạm xúc, khiến chúng sanh đoạn thân căn xúc trần hư vọng, tự giác tánh Bà Ha Quan Âm hiện tướng tay cầm tràng phan giải trừ phân biệt các pháp, khiến chúng sanh đoạn ý căn chấp pháp trần hư vọng, biết tự tánh thức trì tụng Chú Đại BiNên đặt ảnh Bồ tát Quan Thế Âm trước mặt khi tụng chú đại bi để được gia người đã gửi email cho tôi và hỏi về nghi thức tụng Chú Đại Bi đúng chánh pháp, những việc nên làm trước và sau khi trì tụng thần chú này. Do đó, tôi đã tìm hiểu trên các trang Phật học và tổng hợp được nghi thức tụng Chú Đại Bi sau bất kỳ nghi thức nào của Phật giáo, bạn nên tắm rửa sạch sẽ trước khi thực hiện. Sau đó, mặc bộ áo lam gọn gàng và ngồi trước bàn thờ Phật, hoặc một hình Phật – Bồ tát cũng nhớ là chọn khung thời gian yên tĩnh để tránh phân tâm trong lúc tụng Chú Đại Bi. Giọng đọc tụng rõ ràng, vừa phải để tránh làm ảnh hướng đến những hàng xóm xung quanh. Chọn một tư thế ngồi mà bạn thấy thoải mái nhất và bắt lễ Tam Bảo và Bồ tát Quan Thế ÂmCon xin cung kính đảnh lễ Chư Phật mười phương 1 lạy.Con xin cung kính đảnh lễ Pháp mười phương 1 lạy.Con xin cung kính đảnh lễ các vị Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác cùng Tăng sư và các vị theo học đạo Phật 1 lạy.Con xin cung kính đảnh lễ tất thảy các vị chúng sanh khác 1 lạy mong các vị cùng tôi tu tập đoạn trừ hết phiền não, khổ đau mà sớm an lạc tự đó phát nguyệnNam mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau biết tất cả mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm được mắt trí mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau độ các chúng mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm được phương tiện mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau lên thuyền bát mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm được qua biển mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau được đạo giới mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm lên non Niết mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau về nhà vô mô đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm đồng thân pháp con hướng về nơi non đao, non đao tức thời liền sụp con hướng về lửa, nước sôi, nước sôi, lửa cháy tự khô con hướng về cõi địa ngục, địa ngục liền mau tự tiêu con hướng về loài ngạ quỷ, Ngạ quỷ liền được tự no con hướng về chúng Tu La, Tu la tâm ác tự điều con hướng về các súc sanh, súc sanh tự được trí huệ theo là xưng niệm danh hiệu Phật A Di Đà – Nam Mô A Di Đà Phật 21 lần.Lưu ý Khi tụng Chú Đại Bi, bạn nên hướng tâm đến giọng đọc của mình để tâm tĩnh lặng. Sau khi tụng xong, bạn hãy hướng tâm đến những suy nghĩ tích cực như sauCó thể là những phiền não nơi tâm mà hình dung đang được chữa thể là khổ nơi những người thân mà hình dung ra đang đọc tụng ngay thể là khởi lòng thương sót những người đang chịu nhiều khổ đau, không có cơm no áo ấm như thể là khởi lòng thương sót những con vật sắp bị đưa đi giết thịt mà hình dung bên cạnh chúng đọc tụng cho chúng thể là khởi lòng thương sót chúng sanh đang đọa đày ở các cõi Địa ngục, Ngã quỷ…mà hình dung với thân trang nghiêm cao lớn với ánh sáng từ bi soi tới thân họ mà đọc tụng Chú Đại Bi để độ thoát thể thấy cha mẹ, ông bà người thân già yếu mà tụng Chú Đại Bi sống khỏe mạnh, đi nhẹ thể thấy những người thân hay làm những việc bất thiện mà tụng Chú Đại Bi để họ có thể tỉnh ngộ có cơ duyên được học đạo nhớ, Chú Đại Bi là thần chú biểu hiện cho lòng từ bi vĩ đại của Bồ tát, vì thế nó có khả năng khơi dậy tình yêu thương, lòng từ bi trong mỗi chúng bạn thường xuyên trì tụng Chú Đại Bi mà tâm vẫn còn tức giận những chuyện nhỏ nhặt, ít kỷ, vô cảm…không làm việc thiện, không năng nổ trong Phật sự thì bạn đã tụng Chú Đại Bi sai phương pháp hoặc chưa tiến bộ trong tu tập. Bồ tát, Người luôn muốn mang những điều tốt đẹp đến với tất cả chúng sinh trong cõi số video trì tụng Chú Đại Bi rất hay và truyền cảmNhạc Chú Đại Bi Tiếng Phạn do nữ tu Ani Choying Drolma thể hiện Nữ tu sĩ Phật giáo Tây Tạng người NepalNhạc thiền Tây Tạng Chú Đại Bi giúp tĩnh tâm và giải tỏa áp lực trong cuộc sốngThầy Thích Trí Thoát Tụng Chú Đại Bi 21 biếnHoa Sen Phật – Tham khảo Thư Viện Hoa Sen,Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni Xuất Tượng. 1st Ed. NXB Tôn Giáo. Hà Nội
trì tụng là gì